Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân
Tích cực tham gia Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là góp phần xây dựng tương lai cho đất nước và mỗi chúng ta
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019

Toc do tang chung 07.2019.jpg


1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 năm 2019, tăng 2,41% so tháng trước. Trong đó: Khai khoáng tăng 2,18%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,66%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,42%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,06%.

Chỉ số s​ản xuất công nghiệp 7 tháng tăng 8,17% so cùng kỳ. Trong đó: Khai khoáng tăng 5,16%; nhóm ngành chế biến, chế tạo tăng 8,54%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 4,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 4,58%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 7 tháng tăng khá so cùng kỳ như: Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 16,15%, ngành này có mức tăng cao do các doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu ổn định như Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Bao Bì Giấy Hong Chang; Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Giấy Yuen Foong Yu Đồng Nai; Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ojitex Việt Nam.v.v.. mức tăng 9,5-20%; sản xuất thiết bị điện tăng 15%; Sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 13,38%; sản xuất thuốc lá tăng 12,48%; công nghiệp chế biến chế tạo khác tăng 12,63%; sản xuất trang phục tăng 11,85%;  Dệt tăng 11,34%, các doanh nghiệp sản xuất ngành này có hợp đồng sản xuất ổn định từ đầu năm nên duy trì được mức tăng khá; Sản xuất đồ uống tăng 11,2% do nhu cầu tiêu dùng tăng…Bên cạnh những ngành chỉ số sản xuất tăng cao có một số ngành mức tăng trưởng chậm hoặc giảm như: khai khoáng tăng 5,16% do trữ lượng của các mỏ giảm dần, sản lượng khai thác cát, đá có xu hướng chậm hơn trước; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,32%. Nguyên nhân doanh nghiệp ngành này tăng thấp là do một số sản phẩm hoá chất của Công Ty Cổ Phần HH Vedan Viet Nam; Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Rohm And Haas Việt Nam giảm mạnh so cùng kỳ; sản xuất điện tử giảm 1,02% do tình hình xuất khẩu gặp khó khăn; sản xuất xe có động cơ giảm 3,71%...

Như vậy 7 tháng năm 2019 tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trên địa bàn có mức tăng trưởng khá ổn định, thể hiện qua kết quả phản ánh chỉ số sản xuất của 27 ngành kinh tế cấp II, trong đó có 23/27 ngành tăng so cùng kỳ với mức tăng thấp nhất là 2,91% và mức tăng cao nhất 16,16%, có 4/27 ngành có mức giảm, tuy nhiên mức giảm không đáng kể  từ 0,62% đến 7,37% nguyên nhân chủ yếu là do tình hình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, một số doanh nghiệp chưa có hợp đồng mới, thậm chí một số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động do đó ảnh hưởng đến chỉ số chung của toàn ngành.

Chỉ số sản phẩm công nghiệp ước tháng 07 năm 2019 tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: Thuốc bảo vệ thực vật 339,2 tấn, tăng 68,39%; máy giặt 30 nghìn tấn, tăng 45,8%; quần áo các loại 16.788 nghìn cái, tăng 24,24%; vải các loại 73,8 triệu m2, tăng 24,2%; cà phê các loại 37,6 nghìn tấn, tăng 22,53%; giày dép các loại 41,4 triệu đôi, tăng 16,73%; Thức ăn gia súc 362 nghìn tấn, tăng 14,44%; thuốc lá sợi 2.079 tấn, tăng 12,81%; Bột ngọt 21,4 nghìn tấn, tăng 11,84%;bao bì các loại 19,7 nghìn tấn, tăng 8,56%; Sợi các loại 126,5 nghìn tấn, tăng 6,3%;...

- Chỉ số sản phẩm công nghiệp 07 tháng đầu năm 2019 các sản phẩm có chỉ số tăng, giảm so cùng kỳ như: Máy giặt (+55,13%); cà phê các loại (+26,26%); Thuốc bảo vệ thực vật (+20,24%); Quần áo các loại (+15,1%); Vải các loại (+14,08%); Thuốc lá sợi (+13,27%); giày dép các loại (+12,55%); Sợi các loại (+10,11%); Bột ngọt (+9,17%); bê tông trộn sẵn (+8,84%); Đá xây dựng các loại (+5,15%)… Các sản phẩm giảm như: thức ăn gia súc (-2,44%); bao bì các loại (-1,18%).

- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7/2019 dự tính tăng 1,1% so với tháng 6/2019 và tăng 3,42% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm tăng 5,49% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 7 tháng tăng, giảm  so cùng kỳ như: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+14,42%); sản xuất đồ uống (+12,24%); sản xuất thiết bị điện (+11,11%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (+10,47%); sản xuất trang phục (+8,64); sản xuất gường, tủ, bàn, ghế (+8,31%); Dệt (+7,94%); sản xuất da và các sản phẩm liên quan (+7,82%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (+3,84%); sản xuất sản phẩm thuốc lá (-10,47%); sản xuất xe có động cơ (-17,44%); sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu (-17,91%); sản xuất điện tử (-9,71%)…

- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/7/2019 dự tính  tăng 6,54% so với tháng trước và tăng 24,08% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ nhưsản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+33,51%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (+31,34%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (+23,73%); chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ (+12,76%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+26,28%); dệt (+11,17%)... một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: sản xuất đồ uống (-13,41%); sản xuất thiết bị điện (-26,13%); sản xuất gường, tủ , bàn ghế (-3,99%)…

- Chỉ số sử dụng lao động: Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có sự biến động đáng kể, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tháng 7 tăng 1,28% so với tháng 6 và tăng 2,75% so cùng kỳ năm 2018, trong đó: doanh nghiệp nhà nước giảm 0,39% so tháng trước và tăng 1,07% so cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 0,84% và tăng 3,15%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 1,36% và tăng 2,75% so cùng kỳ. Số lao động đang làm việc trong các ngành khai khoáng giảm 0,07% so tháng trước và giảm 2,28% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tương ứng tăng 1,3% và 2,73%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng giảm 0,22% so tháng trước và tăng 11,44%; Cung cấp mước, xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% so tháng trước và tăng 0,62% so cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động 7 tháng đầu năm của doanh nghiệp tăng 1,57% so cùng kỳ. Chia theo loại hình: doanh nghiệp nhà nước giảm 5,26%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 6,5%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 2,51%. Chia theo ngành kinh tế cấp I: ngành khai khoáng giảm 5,31%; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,65%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng giảm 0,78%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 5,99% so cùng kỳ.

2. Nông nghiệp

Diện tích gieo trồng: Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân là 41.860,83 ha, giảm 142 ha (- 0,34%) so với cùng kỳ, trong đó diện tích cây lương thực đạt 26.014,01 ha, giảm 1,8% so cùng kỳ và chiếm 62,14% tổng diện tích. Cây củ có bột đạt 4.512,77 ha, tăng 8,52%; cây thực phẩm đạt 6.791 ha, giảm 0,29%; cây công nghiệp hàng năm đạt 2.658 ha, tăng 7,78% và cây hàng năm khác đạt 1.886 ha, giảm 9,17% so cùng kỳ. Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân giảm là do một số huyện chuyển đổi mục đích sử dụng như: TP. Biên Hòa, Long Khánh, huyện Trảng Bom chuyển sang đất dự án, hoặc các công trình khác; các huyện Long Thành, Xuân Lộc, Nhơn Trạch giảm là do diện tích không chủ động được nguồn nước nên không gieo trồng. Tuy nhiên vụ Đông xuân năm nay người dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích một số loại cây có giá bán thấp, chi phí đầu tư cao để trồng thay các loại cây có kinh tế cao hơn do vậy một số cây trồng tăng như cây lúa tăng 300 ha (+1,87%); khoai lang tăng 60 ha (+33,73%); khoai mỳ 277 ha (+7,26%); thuốc lá tăng 43,3 ha (+9,38%); đậu tương tăng 25,9 ha (+18,91%)…

Năng suất vụ Đông xuân: Do các địa phương xuống giống đúng vụ, chủ động nguồn nước tưới, thực hiện tốt khâu cây giống, chăm bón, phòng chống dịch bệnh nên thiệt hại không lớn. Năng suất một số cây trồng chính trong vụ Đông xuân 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Năng suất lúa đạt 58,49 tạ/ha, tăng 1,13%; bắp đạt 89,06 tạ/ha, tăng 8,76%; rau các loại đạt 164,37 tạ/ha, giảm 1,7%; đậu các loại đạt 12,65 tạ/ha, tăng 6,43%; đậu phộng đạt 19,81 tạ/ha, tăng 4,44%; mía đạt 1.123 tạ/ha, tăng 22,51% so với cùng kỳ.

Sản lượng vụ Đông xuân: Hiện nay hầu hết cây trồng vụ Đông xuân đã thu hoạch xong, sơ bộ Sản lượng thu hoạch cây trồng vụ Đông xuân 2019 so cùng kỳ như sau: Sản lượng lúa đạt 95.230 tấn, tăng 3,03% (+2.797 tấn); bắp đạt 86.689 tấn, tăng 0,71% (+612 tấn);  rau các loại đạt 90.180 tấn, giảm 1% (-913 tấn); đậu các loại đạt 1.650 tấn, tăng 1,83% (+29,6 tấn) so với cùng kỳ.v.v…

- Tiến độ gieo trồng v Hè thu

Tính đến ngày 15/7/2019 toàn tỉnh đã gieo trồng được 61.322 ha, tăng 2,49% so cùng kỳ. Trong đó cây lương thực đạt 38.687 ha, giảm 0,72%; Cây củ có bột đạt 10.141 ha, tăng 2,9%; Cây thực phẩm đạt 6.251 ha, tăng 15,52%; cây công nghiệp hàng năm đạt 3.933 ha, giảm 1% so cùng kỳ.

Vụ Hè Thu đã bắt đầu vào mùa mưa, tuy lượng mưa chưa nhiều nhưng đủ lượng nước, vì thế người dân đã tranh thủ tiến hành làm đất và gieo trồng nên tiến độ gieo trồng vụ Hè thu tăng cao so cùng kỳ, các địa phương đang tích cực chuẩn bị đất để xuống giống đồng loạt. Một số huyện có diện tích gieo trồng tăng cao như: Huyện Tân Phú, Định Quán, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc…

b. Cây lâu năm

Trong tháng 7 năm 2019 các hộ  dân tiếp tục xuống giống một số cây trồng chủ lực như cam, bưởi, chuối, xoài, thanh long, sầu riêng. Diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 173.095,8 ha, giảm 0,37% so cùng kỳ, Trong đó diện tích cây ăn quả là 51.993,45 ha, giảm 1,92% và chiếm 30%; Cây công nghiệp lâu năm là 121.102,4 ha, tăng 0,31% và chiếm 70%. Diện tích cây lâu năm giảm chủ yếu là điều, tiêu, cao su một phần giảm là do giá thấp, một phần diện tích đã già cỗi người dân không trồng lại và chuyển sang trồng tràm (cây lâm nghiệp), một phần đất cao su  chuyển sang đất khu công nghiệp, đất dự án.

Hiện nay người dân đang tiếp tục thu hoạch một số loại cây ăn quả lâu năm như chôm chôm, xoài, cam và bưởi, bơ, mãng cầu, sầu riêng.  Dự ước sản lượng của một số trồng lâu năm sản lượng tăng nhẹ với cùng kỳ năm trước: sản lượng xoài đạt 64.525,3 tấn, tăng 2,01%; chuối đạt 62.081,5 tấn, tăng 4,4%; cam đạt 5.128 tấn, tăng 2,2%; bưởi đạt 20.183 tấn, tăng 2,01%; sầu riêng đạt 7.175,5 tấn, tăng 2,5%...Cao su đạt 17.894,9 tấn, tăng 1,62%.v.v…

e. Chăn nuôi

Trong tháng 7 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chịu nhiều ảnh hưởng về dịch tả heo Châu Phi. Tính đến ngày 14/7/2019, toàn tỉnh có 765 hộ chăn nuôi thuộc 73 xã của 10 huyện, thành phố xuất hiện dịch, với số heo phải tiêu hủy hơn 94 ngàn con. Hiện chỉ còn Thành phố Long Khánh là địa phương duy nhất chưa phát sinh dịch bệnh. Đặc biệt, từ đầu tháng 7 đến nay, dịch lan rất nhanh và chưa có dấu hiệu dừng lại, nguy cơ lây nhiễm trên tất cả các địa phương rất cao, nhất là đang giai đoạn mùa mưa. Khó khăn chính trong công tác phòng, chống dịch tả heo Châu Phi là nhiều trang trại, hộ chăn nuôi còn lơ là việc áp dụng biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại. Bên cạnh đó, tổng đàn heo của Đồng Nai rất lớn (trên 2 triệu con), khoảng 25% là hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên khó kiểm soát mầm bệnh tích tụ tại các hệ thống xử lý chất thải, ao nuôi cá của các trang trại chăn nuôi đã bị dịch. Trong thời tiết mùa mưa, nguồn nước dễ lây lan, khiến dịch bệnh có nguy cơ lan rộng.

Ngành Thú y tiếp tục triển khai cho các đơn vị, kết hợp với các cơ quan chuyên môn, chú trọng tới công tác tuyên truyền và phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm nhất là công tác tiêm phòng luôn được quan tâm, giám sát chặt chẽ; Chỉ đạo các địa phương phải tập trung vào công tác quản lý, kiểm tra, giám sát từ cơ sở chăn nuôi đến hoạt động vận chuyển, kinh doanh; Rà soát công tác tiêm phòng, thống kê tổng đàn gia súc, gia cầm tại địa phương, các đầu mối lưu thông và thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn.

Dự ước số lượng gia súc và gia cầm tháng 7 năm 2019

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Chính thức cùng kỳ

Ước thực hiện kỳ báo cáo

So sánh cùng kỳ (%)

I. Gia súc

Con 

2.323.620

2.262.666

97,38

  1. Trâu

Con

2.968

2.984

100,54

  2. Bò

Con

75.352

75.900

100,73

     Tr. đó: Bò sữa

Con

337

341

101,19

  3. Lợn

Con

2.245.300

2.183.782

97,26

II. Gia cầm

1000 con

23.646,51

25.731,73

108,82

    Trong đó: Gà

1000 con

22.527,50

24.007,03

106,57

Lưu ý: Tổng đàn Lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ

Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 7/2019 là 2.262.666 con, giảm 60.954 con (-2,62%) so cùng kỳ. Trong đó trâu đạt 2.984 con tăng 0,54%, bò đạt 75.900 con tăng 0,73%; heo đạt 2.183.782 con, giảm 2,74% tương đương giảm 61.518 con. Nếu so với tháng 6/2019 thì giảm 10,73% hay giảm 262.388 con. Nguyên nhân số lượng tổng đàn heo giảm so với cùng kỳ là do dịch tả heo Châu Phi đang bùng phát và lây lan trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh số heo bị dịch chết thì các hộ chăn nuôi không phủ nọc cho heo nái để tái đàn, làm cho đàn heo giảm mạnh; Hiện nay giá heo hơi xuống khá thấp, do tình hình dịch bệnh tiếp diễn bất thường, giá heo đến ngày 16/7/2019 dao động ở mức thấp, từ 28.000 đến 31.000 đồng/kg.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 7/2019 là 25.731,73 ngàn con, tăng 8,82% so cùng kỳ. Trong đó gà đạt 24.007,03 ngàn con, tăng 6,57% và chiếm 93,3% tổng đàn gia cầm. Đàn gà tiếp tục  tăng mạnh là do thị trường tiêu thụ ổn định, dịch bệnh không phát sinh, nên các trang trại đã chủ động tăng đàn. Hơn nữa, khoảng 80% tổng đàn gà tại Đồng Nai được nuôi theo hình thức trang trại tập trung, áp dụng các quy trình an toàn dịch bệnh nên đảm bảo chất lượng sinh trưởng vật nuôi. Hiện nay, một số trang trại nuôi gà thịt đã kết nối được các doanh nghiệp tiêu thụ, tạo thành chuỗi khép kín từ trang trại đến bàn ăn, góp phần thúc đẩy hoạt động chăn nuôi phát triển. Các trang trại nuôi gà tập trung ở các huyện Thống Nhất, Trảng Bom, Cẩm Mỹ.

3 Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng và nuôi dưỡng rừng:  Bước vào mùa mưa với lượng mưa tương đối, do đó các đơn vị lâm nghiệp đẩy nhanh tiến độ triển khai trồng mới diện tích rừng đã thu hoạch để đảm bảo kế hoạch trồng rừng năm 2019.Dự ước trong tháng 7 diện tích rừng trồng mới đạt 928,12 ha tăng 20,85% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đạt 2.620,07 ha giảm 8,28% so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do diện tích rừng trồng những năm trước chưa được khai thác hết, diện tích đất trống để trồng rừng không còn, do vậy các đơn vị lâm nghiệp chỉ thực hiện trồng trên những diện tích rừng đã cho khai thác.

Số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán dự ước tháng 7 đạt 110 ngàn cây, số cây này tập trung ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước, tỷ lệ đạt thấp do trồng cây lâm nghiệp trên diện tích đất vườn, đất ven đường, ven kênh mương, trong các trường học, công sở, trên các mảnh đất nhỏ phân tán đã kín.

- Khai thác gỗ và lâm sản: Sản lượng gỗ khai thác dự ước tháng 7 đạt 33.813 m3, tăng 47,78% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 7 tháng đạt 142.396 m3 tăng 114,2% so cùng kỳ. Sản lượng khai thác gỗ tăng khá là do diện tích rừng đã đến kỳ khai thác, chủ yếu là rừng sản xuất làm nguyên liệu giấy với nhóm gỗ chủ yếu thuộc nhóm 6 và nhóm 7 với các loại gỗ tràm cao sản, keo lai...

Sản lượng củi khai thác dự ước tháng 7 ước đạt 151 ste tăng 8,63% so tháng cùng kỳ, Lũy kế 7 tháng đạt 576 ste tăng 4,73% so cùng kỳ.

2.3. Thủy sản

Dự ước tổng sản lượng thủy sản tháng 07/2019 đạt 5.615,6 tấn, tăng 3,46% so với tháng cùng kỳ; trong đó cá đạt 5.066,01 tấn, tăng 3,59%; tôm đạt 489,54 tấn, tăng 1,98%, thủy sản khác đạt 60,05 tấn, tăng 4,74% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng sản lượng thuỷ sản đạt 36.307,96 tấn, tăng 7,74% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá chiếm gần 90% và tăng 8,25% so cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng thủy sản tăng một phần là do nhu cầu thị trường xã hội tăng, một phần giá thủy sản khá ổn định, hơn nữa người nuôi đầu tư kỹ từ vật nuôi, con giống, chăm sóc, phòng chống dịch bệnh tốt, góp phần làm tăng sản lượng thủy sản trên địa bàn.

4. Thương mại, giá cả, xuất nhập khẩu, vận tải và du lịch

a. Thương mại

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 7 năm 2019 ước đạt 14.615,8 tỷ đồng, tăng 0,63% so tháng trước. Dự ước 7 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 102.022,8 tỷ đồng, tăng 11,78% so cùng kỳ và đạt 57,06% so kế hoạch năm.

Tình hình bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2019 phân theo ngành hoạt động

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tháng 7 đạt 11.017,64 tỷ đồng, tăng 0,72% so tháng trước. Dự ước 7 tháng đạt 77.073,15 tỷ đồng, tăng 11,99% so cùng kỳ. Một số nhóm ngành 7 tháng đầu năm 2019 tăng so cùng kỳ như: Lương thực, thực phẩm, tăng 16,65%; Xăng, dầu các loại, tăng 12,42%; Ô tô các loại, tăng 12,83%; Gỗ và vật liệu xây dựng, tăng 11,77%; Hàng may mặc tăng 11,94%; Nhiên liệu khác tăng 11,89%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, tăng 9,59%; Sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ tăng 9,3%...

- Doanh thu dịch vụ l­ưu trú tháng 7/2019 ước đạt 26,87 tỷ đồng, tăng 0,47% so tháng trước. Lượt khách phục vụ đạt 276.849 lượt khách, tăng 0,41% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước tăng 3,83%; Ngày khách phục vụ đạt 206.464 ngày tăng 0,5% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước tăng 5,68%. Nguyên nhân tăng là do đang trong tháng nghỉ hè nên lượng khách tới tham quan, vui chơi, giải trí tăng dẫn tới nhu cầu lưu trú tăng làm cho doanh thu dịch vụ lưu trú tăng so tháng trước. Lũy kế 7 tháng đạt 189,1 tỷ đồng, tăng 4,81% so cùng kỳ. Lượt khách phục vụ đạt 1.947.698 lượt khách, so cùng kỳ năm trước tăng 4,24%; Ngày khách phục vụ đạt 1.449.078 ngày, so cùng kỳ tăng 5,76%.

- Dịch vụ ăn uống tháng 7/2019 ước đạt 1.325,17 tỷ đồng, giảm 0,27% so tháng trước; Cộng dồn 7 tháng ước đạt 9.255,58 tỷ đồng, tăng 12,17% so cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu ngày càng cao, xu hướng ăn uống ngoài gia đình phát triển đã thúc đẩy các mô hình kinh doanh ăn uống mới hình thành, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, giá một số mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu các tháng gần đây tăng, mặt khác các chi phí khác như điện, xăng dầu, gas… tăng đã làm cho giá các mặt hàng ăn uống tăng, góp phần làm tăng doanh thu khu vực này...

- Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 7/2019 ước đạt 8,35 tỷ đồng, giảm 1,44% so tháng trước; tăng 8% so cùng tháng năm trước. Lượt khách du lịch theo tour 14.006 lượt giảm 0,96% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 6,87%; Ngày khách du lịch theo tour 30.302 ngày giảm 0,67% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 1,08%. Do thời tiết mưa nhiều nên nhu cầu đối với dịch vụ lữ hành giảm; mặt khác trong tháng 6 nhiều doanh nghiệp đã tổ chức cho người lao động đi du lịch, nghỉ dưỡng nên tháng 7 lượng khách đi du lịch, lữ hành theo tour giảm dẫn tới doanh thu dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch giảm. Dự ước 7 tháng đạt 58,47 tỷ đồng, tăng 9,13% so cùng kỳ.

+ Doanh thu dịch vụ khác tháng 7/2019 ước đạt 2.237,78 tỷ đồng, tăng 0,7% so tháng trước; Dự ước 7 tháng ước đạt 15.446,49 tỷ đồng, tăng 10,63% so cùng kỳ.

b. Giá cả thị trường

      Tháng 7/2019 tình hình giá cả có biến động nhưng mức tăng thấp. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2019 so tháng trước tăng 0,19%; tăng 2,14% so tháng 12 năm trước; tăng 2,76% so với tháng cùng kỳ năm trước; chỉ số giá bình quân 7 tháng tăng 2,58% so cùng kỳ.

      Tình hình giá cả các loại hàng hóa tăng, giảm như sau:

      * Chỉ số giá tiêu dùng

      Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước tăng 0,61%; tăng 3,85% so cùng tháng năm trước; tăng 2,1% so tháng 12 năm trước và tăng 4,43% so bình quân cùng kỳ.

      Trong nhóm này thì nhóm lương thực tăng 0,11% so tháng trước; giảm 0,17% so cùng tháng năm trước; bình quân 5 tháng giảm 1,08% so cùng kỳ. Nguyên nhân tăng nhẹ so tháng trước là do giá gạo nhập khẩu từ campuchia qua vẫn ở mức cao; giá gạo trong tỉnh cũng tăng nhẹ do mùa mưa nên chi phí trong việc bảo quản chất lượng gạo tăng lên nhóm gạo tẻ ngon tăng 0,28%; các mặt hàng ngũ cốc ngô tăng 0,78%.

      Nhóm hàng thực phẩm trong tháng tăng 0,39% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 4,81% và so bình quân cùng kỳ tăng 6,58%.

      Nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 3,54%. Do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều nên sản lượng hư nhiều dẫn đến giá một số mặt hàng rau tăng cao như: bắp cải tăng 6,37%; rau cải xanh tăng 9,58%; rau cải bẹ muối dưa tăng 7,07%...

      Nhóm Đồ uống và thuốc lá: Chỉ số giá tháng này so tháng trước không tăng giảm; so tháng 12 năm trước tăng 0,25%; so cùng tháng năm trước tăng 0,47% và so bình quân cùng kỳ tăng 0,17%.

      Nhóm may mặc, mũ, nón, giày dép: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước tăng 0,35%; so tháng 12 năm trước tăng 0,9%; so với cùng tháng năm trước tăng 3,02% và so bình quân cùng kỳ tăng 3,34%. Nguyên nhân tăng chủ yếu do là chuẩn bị vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm các sản phẩm may mặc, quần áo, giày dép tăng cao làm cho giá một số mặt hàng tăng như: vải tăng 1,02%; sản phẩm quần áo may sẵn tăng 0,43%.

      Nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD giảm 0,36% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 4,93% và so bình quân cùng kỳ tăng 4,83%.

      Trong tháng giá điện, dịch vụ điện giảm 0,49%, nhóm nước và dịch vụ nước giảm 1,36% so tháng trước.

      Nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 5,85% so tháng trước. Nguyên nhân giảm là do ảnh hưởng của giá gá, giá dầu hỏa thế giới giảm mạnh nên trong tháng giá gas trong nước giảm bình quân 6,23%, giá dầu hỏa giảm 0,28%;

      Các mặt hàng VLXD trong tháng như sắt thép, xi măng tương đối ổn định do vào chính mùa mưa nên nhu cầu xây dựng không cao và giá các mặt hàng này không có biến động nhiều.

      Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình: Chỉ số giá nhóm này trong tháng tăng 0,12% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 1,24%; so tháng 12 năm trước tăng 0,92% và so bình quân cùng kỳ tăng 0,94%.

      Các nhóm còn lại có chỉ số giá ổn định, tăng giảm không nhiều.

      * Giá vàng: Trong tháng giá vàng bình quân tăng 5,38% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 10,63%; so tháng 12 năm trước tăng 11,38% và so bình quân cùng kỳ tăng 2,06%.

      * Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này giảm 0,18% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 0,49%; so tháng 12 năm trước giảm 0,16% và so bình quân cùng kỳ tăng 1,52%.

c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

* Xuất khẩu: Ước kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7 năm 2019 trên địa bàn tỉnh đạt 1.740,88 triệu USD, tăng 8,92% so tháng trước. Ước kim ngạch xuất khẩu 7 tháng/2019 đạt 11.042,1 triệu USD, tăng 5,56% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 268,95 triệu USD, tăng 3,06%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1.712,14 triệu USD, tăng 4,03%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9.061,02 triệu USD, tăng 5,93% so cùng kỳ. Nguyên nhân xuất khẩu 7 tháng đầu năm tăng thấp, chỉ tăng 5,56% là do ảnh hưởng chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, thị trường xuất khẩu hàng hoá chủ lực giảm sút, các nước trên thế giới áp dụng chính sách tài khóa dẫn đến tỷ giá USD quy đổi ra đồng Việt Nam tăng lên làm cho giá cả hàng hóa xuất khẩu tăng lên so với hợp đồng đã ký. Mặt khác do một số mặt hàng nông sản xuất khẩu truyền thống giá thế giới giảm như: Hạt điều, tiêu, cà phê, cao su… đã làm kim ngạch xuất khẩu giảm.

Một số ngành hàng xuất khẩu 7 tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Cao su ước đạt 31,2 triệu USD (+41,76%); Giày, dép các loại ước đạt 2.390,9 triệu USD (+15,68%); Máy móc thiết bị ước đạt 935 triệu USD (+14,9%); Sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 208,5 triệu USD (+9,07%); Hạt tiêu đạt 23,5 triệu USD (9,07%); Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 527,6 triệu USD (+6,13%); Sản phẩm gỗ đạt 806,4 triệu USD (+6,04%); Sản phẩm sắt thép đạt 428,3 triệu USD (+5,99%); Hàng dệt may đạt 1.132,2 triệu USD (+3,73%); Xơ, sợi dệt đạt 865,7 triệu USD (-5,44%); Máy vi tính, sản phẩm điện tử đạt 347,6 triệu USD (-3,07%); Hạt điều đạt 176,4 triệu USD (-7,73%); Cà phê đạt 246,8 triệu USD (-18,63%) so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu tháng 7 tập trung chủ yếu ở các nước: Hoa Kỳ đạt 474,4 triệu USD, chiếm 30,3%; Nhật Bản đạt 183 triệu USD, chiếm 11,3%; Trung Quốc đạt 182,7 triệu USD, chiếm 11,2%; Các thị trường khác có kim ngạch xuất khẩu khá như: Hàn Quốc, Bỉ, Hong Kong, Thái Lan, Đức, Úc… chiếm tỷ trọng từ 2,4% đến 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu.

* Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 7 năm 2019 ước đạt 1.482,16 triệu USD, tăng 13,83% so tháng trước. Dự ước 7 tháng đạt 9.282,8 triệu USD, tăng 1,23% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 169,24 triệu USD, tăng 1,08%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1.577,97 triệu USD, tăng 1,17%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.535,6 triệu USD, tăng 1,25% so cùng kỳ. Nguyên nhân kim ngạch nhập khẩu 7 tháng tăng thấp là do giá các mặt hàng nông sản giảm mạnh từ 11,9% đến 38,3% so cùng kỳ mặt khác do xuất khẩu tăng thấp lên nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất giảm. Cụ thể một số mặt hàng nguyên liệu có lượng nhập tăng, giảm như sau:

+ Hạt điều: Ước kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đạt 50.993 tấn, tăng 53% về lượng và giảm 5,54% về trị giá. Nguyên nhân là do giá hạt điều trên thế giới đang giảm, hiện giá nhập khẩu hạt điều đang ở mức 1.238 (USD/tấn), giảm 38,26% so cùng kỳ.

+ Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Ước kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đạt 442,1 triệu USD, giảm 12% so cùng kỳ.

+ Ngô: Ước kim ngạch nhập khẩu 7 tháng 2019 đạt 1.172.430 tấn, so cùng kỳ tăng 76,2% về lượng và tăng 77,2% về giá trị.

+ Cao su: Ước kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đạt 54.137 tấn, so với cùng kỳ tăng 25,9% về lượng và tăng 10,9% về giá trị.

+ Bông các loại: Ước đạt 233.666 tấn, giảm 7,39% về lượng và giảm 10,52% về giá trị. Hiện giá đang ở mức 1.883 USD/tấn, giảm 3,38% so cùng kỳ.

+ Chất dẻo nguyên liệu: Ước đạt 491.737 tấn, so cùng kỳ tăng 7,88% về lượng và tăng 0,93% về giá trị.

+ Xơ, sợi dệt các loại: Ước đạt 121.954 tấn, so cùng kỳ giảm 6,1% về lượng và giảm 7% về giá trị. Hiện giá đang ở mức 2.278 USD/tấn, giảm 0,97% so cùng kỳ.

Thị trường nhập khẩu trong tháng 7/2019 chủ yếu ở các nước: Trung Quốc ước đạt 297,3 triệu USD, chiếm 21,3%; Hàn Quốc ước đạt 239,9 triệu USD, chiếm 15,2%; Đài Loan ước đạt 159,2 triệu USD, chiếm 10,4% tổng kim ngạch nhập khẩu. Các thị trường khác cũng có kim ngạch nhập khẩu khá cao như: Hoa kỳ; Nhật Bản; Thái Lan; Brazil; Indonesia, Malaysia…. chiếm tỷ trọng từ 2,1% đến 10%.

d. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi tháng 7/2019: Dự ước doanh thu đạt 1.274,4 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 12,25% so cùng tháng năm trước. Cụ thể:

+ Vận tải hành khách dự tính đạt 250,72 tỷ đồng, tăng 0,47% so tháng trước và tăng 14,42% so cùng tháng năm trước. Khối lượng vận chuyển ước đạt 9.259,7 nghìn HK, tăng 0,22%; khối lượng luân chuyển ước đạt 591.470,5 nghìn HK.km, tăng 0,24% so  tháng trước.

+ Vận tải hàng hóa ước đạt 546,9 tỷ đồng, tăng 0,44% so tháng trước và tăng 11,39% so cùng tháng năm trước. Ước sản lượng vận tải hàng hóa tháng 7 năm 2019 đạt 4.805,1 nghìn tấn vận chuyển và 323.513,7 nghìn tấn - km luân chuyển, so tháng trước tăng 0,29% về vận chuyển và 0,32% về luân chuyển.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 476,79 tỷ đồng, tăng 1,66% so tháng trước và tăng 12,14% so cùng tháng năm trước.

Hoạt động vận tải, kho bãi 7 tháng đầu năm 2019: Dự ước doanh thu đạt 8.576,84 tỷ đồng, tăng 12,19% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách dự ước doanh thu đạt 1.751,89 tỷ đồng, tăng 12,3%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 63.967,5 nghìn HK, tăng 6,05%; khối lượng luân chuyển ước đạt 4.092.414,5 nghìn HK.km, tăng 6,17% so cùng kỳ. Trong đó: Đường bộ đạt 62.105,6 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 6,18% và 4.091.061,5 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 6,17%; đường sông đạt 1.861,9 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 1,96% và 1.353 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 2,26%. Tình hình vận chuyển hành khách 7 tháng đầu năm tăng cả doanh thu và sản lượng so cùng kỳ là do mạng lưới vận chuyển hành khách công cộng phát triển, trải đều đến các địa bàn phục vụ tốt nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt là công nhân. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng giao thông ngày càng được chú trọng, chất lượng các công trình giao thông được nâng lên đáp ứng yêu cầu về lưu thông trên địa bàn tỉnh. Các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách không ngừng tu sửa và mua sắm thêm phương tiện, duy trì và mở thêm luồng tuyến mới, phong cách phục vụ ngày càng nâng cao và lịch sự hơn cũng góp phần làm tăng sản l­ượng vận chuyển hành khách.

Vận tải hàng hóa ước doanh thu 7 tháng/2019 đạt 3.713,29 tỷ đồng, tăng 12,86% so cùng kỳ. Ước sản lượng vận tải hàng hóa đạt 32.844 nghìn tấn vận chuyển và 2.217.345 nghìn tấn - km luân chuyển, so cùng kỳ tăng 5,86% về vận chuyển và 6,17% về luân chuyển. Trong đó: Đường bộ đạt 31.989 ngàn tấn vận chuyển, tăng 5,93% và 2.071.948 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 6,37%; đường sông đạt 854,6 ngàn tấn vận chuyển, tăng 3,34% và 145.397 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 3,42%. Nguyên nhân hoạt động vận tải hàng hóa tăng là do các doanh nghiệp vận chuyển ngày càng tăng về số lượng và cải thiện đáng kể về chất lượng: phương tiện tốt, gọn nhẹ và ngày càng tạo uy tín cho các đối tác có nhu cầu vận chuyển hàng. Bên cạnh đó, sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển là yếu tố quan trọng để vận tải hàng hóa tăng trưởng.

Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 7 tháng/2019 ước đạt 3.111,65 tỷ đồng, tăng 11,35% so với cùng kỳ.

5. Đầu tư phát triển

Dự ước tháng 7 năm 2019 vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 641,3 tỷ đồng, tăng 6,2% so tháng trước. Ước 7 tháng thực hiện 3.151,4 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ và bằng 47,2% so kế hoạch năm 2019. Giải ngân tính đến thời điểm báo cáo ước đạt 2.151,93 tỷ đồng, bằng 11,48% so kế hoạch năm 2019. Trong tháng 7 các chủ đầu tư thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2018 chuyển sang và một số các dự án mới cũng được triển khai. Tình hình thực hiện các nguồn vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh quản lý: Ước tháng 7 năm 2019 thực hiện 435,3 tỷ đồng, tăng 7,5% so với tháng trước. Ước 7 tháng đạt 2.030 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ và bằng 48,4% so với kế hoạch năm.

Một số dự án trọng điểm:

Dự án hồ chứa nước Gia Măng Huyện Xuân Lộc. Đây là dự án chuyển tiếp do Cty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi làm chủ đầu tư, Vốn kế hoạch năm 2019 được giao vốn là 15 tỷ đồng, công trình hiện tại đã hoàn thành một số hạng mục và đang chờ nghiệm thu bàn giao; Dự án đầu tư thí điểm trường học tiên tiến hiện đại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020. Dự ước khối lượng thực hiện tháng7 là 20 tỷ đồng, tính đến thời điểm hiện nay tất cả trang thiết bị theo hợp đồng công trình đã được lắp đặt và nghiệm thu; Dự án xây dựng mới Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Đang tổ chức lựa chọn nhà thầu lập thiết kế bản vẽ thi công. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng là 5,3 tỷ đồng.; Dự án Đường kết nối vào cảng Phước An. Dự ước khối lượng thực hiện  23 tỷ đồng. Hiện đang thi công xử  lý nền đất yếu, đắp đất nền đường đoạn đầu cầu Bến Lớn 400m.

Một số dự án được khởi công mới như: Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Kế hoạch vốn năm 2019 là 18 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ, do trung ương quản lý giá trị giải ngân đến ngày 17/7/2019 đạt 4,7 tỷ đồng;  Dự án mở rộng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Vốn kế hoạch năm 2019 cho dự án là: 40 tỷ đồng. Hiện tại đã hoàn thành công tác bồi thường và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư.

Các dự án khác: Dự án xây dựng nâng cấp mở rộng đường Đỗ Văn Thi xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa: Dự ước tháng 7 thực hiện 3 tỷ đồng; Dự án xây dựng hồ chứa nước Cầu Dầu – TP. Long Khánh: Dự ước thực hiện 2,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng nâng cấp đường vào khu hành chính huyện Long Thành dự ước thực hiện 1,9 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước do cấp huyện quản lý

Dự ước tháng 7 thực hiện 166,9 tỷ đồng, tăng 3,8% so với tháng 6/2019, Ước 7 tháng đạt 891,99 tỷ đồng tăng 7,5% so cùng kỳ và đạt 44,1% so kế hoạch năm 2019. Tình hình thực hiện các công trình như sau: Dự án xây dựng trường tiểu học Trảng Dài (TP.Biên Hòa) tháng 7/2019 ước thực hiện 3,5 tỷ đồng; Dự án nạo vét suối Tân Mai (TP.Biên Hòa) tháng 7/2019 ước thực hiện 1,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng trường THCS phía Bắc TT.Trảng Bom tháng 7/2019 ước thực hiện 3,9 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do cấp xã quản lý:

Dự ước tháng 7 thực hiện 39 tỷ đồng, tăng 2,4 % so tháng 6/2019. Ước 7 tháng thực hiện 229 tỷ đồng tăng 18,5% so với cùng kỳ và đạt 48,9% so kế hoạch năm 2019. Hầu hết các công trình do UBND cấp xã làm chủ đầu tư chủ yếu các dự án là đường giao thông, kênh mương nội đồng.v.v.

Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7 năm 2019 còn chậm nguyên nhân do tiến độ giải ngân chậm. Công tác giải phóng mặt bằng; tập trung giải quyết các khó khăn vướng mắc, hiện tại các công trình đang đẩy nhanh tiến độ thi công nhất là các công trình trọng điểm nhằm đảm bảo kế hoạch năm 2019.

         ​6. Thu hút đầu tư

Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn Đầu tư trực tiếp ngoài (FDI) tính đến 20/7/2019 đạt 1.094,6 triệu USD, đạt 109,46% so kế hoạch năm, tăng 11,94% so cùng kỳ. Trong đó cấp mới 51 dự án với tổng vốn đăng ký 515,67 triệu USD, tăng 8,79% và 58 dự án tăng vốn 578,95 triệu USD, tăng 14,89%

Tổng vốn đầu tư trong nước 7 tháng ước đạt 7.205,42 tỷ đồng, đạt 78,7% kế hoạch năm, bằng 76,18% so cùng kỳ. Trong đó cấp mới 43 dự án với tổng vốn đăng ký 7.205,4 tỷ đồng, bằng 71,7% và 6 dự án tăng vốn 662,7 tỷ đồng, tăng 133,45% so cùng kỳ

Trong tháng 7 năm 2019 có 167 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký vốn đăng ký 1.101 tỷ đồng và 257 lượt doanh nghiệp đăng ký thay đổi, trong đó có 12 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn là 241,7 tỷ đồng. Ngoài ra còn có 65 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh. Tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2019, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 27.110,7 tỷ đồng tăng 30,4% so với cùng kỳ và đạt 102,3% kế hoạch năm. Trong đó số đăng ký thành lập mới là 2.050 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 21.728 tỷ đồng, tăng 31,2% và 198 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với vốn đăng ký bổ sung là 5.382,7 tỷ đồng, tăng 25,88% so cùng kỳ.

Tiếp tục triển khai thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng và trả kết quả tại nhà: tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2019 đã có 5.994 lượt doanh nghiệp đăng ký trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp: Từ đầu năm đến ngày 15/7/2019 có 161 doanh nghiệp giải thể với số vốn 1.729 tỷ đồng và 234 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, 337 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân, nguyên nhân chủ yếu do kinh doanh không hiệu quả.

7. Tài chính – Ngân hàng

a. Tài chính

Ước thu ngân sách nhà nước 7 tháng đạt 30.100 tỷ đồng, đạt 55,4% dự toán năm và tăng 15,37% cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 20.200 tỷ đồng, đạt 54,3% dự toán và tăng 23,6% cùng kỳ. Thu lĩnh vực xuất, nhập khẩu ước đạt 9.900 tỷ đồng, tăng 1,5% cùng kỳ và đạt 57,9% so dự toán.

Dự ước Tổng chi ngân sách địa phương 7 tháng đạt 9.850 tỷ đồng, đạt 35,6% dự toán và giảm 2,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 3.350 tỷ đồng, đạt 48% dự toán và giảm 5% so cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 6.500 tỷ đồng, đạt 53,5% dự toán và tăng 6,5% so với cùng kỳ. Chi thường xuyên 7 tháng đáp ứng kịp thời kinh phí cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội, một số sự nghiệp chi đạt thấp do đầu năm địa phương thực hiện tiết kiệm 10% để tạo nguồn cải cách tiền lương, dự phòng các sự nghiệp để đảm bảo thực hiện tốt việc tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng kinh phí ngân sách, chi ngân sách đúng tiêu chuẩn, định mức trong dự toán được HĐND tỉnh giao.

b. Hoạt động ngân hàng

Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước đến 31/7/2019 đạt 187.050 tỷ đồng, tăng 9,43% so đầu năm. Trong đó:  Tiền gửi bằng đồng Việt Nam ước đạt 174.659 tỷ đồng, tăng 10,5% so đầu năm; Tiền gửi bằng ngoại tệ ước đạt 11.553 tỷ đồng, giảm 4,93%. Mặt bằng lãi suất huy động bằng VNĐ tương đối ổn định, phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,6-7,3%/năm. Lãi suất huy động USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Hoạt động tín dụng: Đến 31/7/2019 tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn ước đạt 207.000 tỷ đồng, tăng 13,69% so với đầu năm (trong đó nợ xấu ước chiếm 1% trên tổng dư nợ cho vay). Dư nợ cấp tín dụng bao gồm:

- Giá trị các khoản đầu tư trái phiếu doanh nghiệp ước đạt: 2.185 tỷ đồng.

- Tổng dư nợ cho vay ước đạt: 204.815 tỷ đồng, tăng 12,61% so đầu năm. Dư nợ cho vay có xu hướng tăng trưởng khá, chủ yếu cho vay đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và một số lĩnh vực ưu tiên.

Lãi suất cho vay VNĐ phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5-6,0%/năm.

8. Một số tình hình xã hội

a. Văn hóa thông tin

Trong tháng 7 Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh Đồng Nai thực hiện 03 bộ maket, 400m băng rôn, 342m2 pano; biểu diễn tuyên truyền lưu động với chủ đề “Kỷ niệm 71 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc” tại huyện Nhơn Trạch, Long Thành;  chủ đề “Hè tình nguyện - Vì đàn em thân yêu” tại huyện Tân Phú...

- Hoạt động biểu diễn nghệ thuật

Biểu diễn 11 buổi phục vụ Hè cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai và học sinh, thiếu nhi trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu; phục vụ Lễ công bố thành phố Biên Hòa hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, thành lập 06 phường; Phục vụ Lễ Công bố Quyết định thành lập Thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất;  Phục vụ Hội đồng Thẩm định Nghệ thuật của Sở thẩm định vở diễn “Niềm khát”…

05 đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim và lồng ghép các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ thiếu nhi trong dịp nghỉ Hè 2019, phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, phục vụ các xã nông thôn mới và công nhân tại các khu công nghiệp trong tỉnh; tuyên truyền về chương trình “Giữ trọn ước mơ” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về đội mũ bảo hiểm cho trẻ em khi tham gia giao thông…Trong tháng, các đội chiếu phim đã thực hiện 138 buổi chiếu lưu động, phục vụ khoảng 33.740 lượt người xem.

- Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc: Thường xuyên mở cửa phòng triển lãm, phòng trưng bày tại Bảo tàng Đồng Nai, phục vụ các đoàn khách tham quan, các đoàn học sinh, sinh viên đến nghiên cứu và học tập. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh đã đón khoảng 2.900 lượt khách đến tham quan, học tập.

b. Thể dục thể thao

Trong tháng, ngành đã tham mưu UBND tỉnh đăng Đăng cai tổ chức thành công Giải vô địch trẻ Thể dục Aerobic quốc gia năm 2019; Tổ chức Giải vô địch trẻ Karate tỉnh Đồng Nai mở rộng năm 2019. Giải thu hút sự tham gia của các Đoàn Vận động viên đến từ 09 huyện, thành phố và các đơn vị trên địa bàn tỉnh tham gia.

Tham gia 10 giải thể thao cấp quốc gia, đạt 10 HCV, 17 HCB, 25 HCĐ; Tham gia 04 giải thể thao quốc tế, đạt 02 HCV, 01 HCB, 03 HCĐ. Trong đó, thành tích nổi bật như: Giải vô địch cờ vua nam, nữ các nhóm tuổi Trẻ Đông Nam Á tại Myanmar (đạt 02 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ), Giải Cầu lông quốc tế tại Mông Cổ (đạt 01 HCĐ).

C. Giáo dục

Kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2019: Toàn tỉnh có trên 27.702 thí sinh dự thi THPT quốc gia năm 2019. Theo đó, tỷ lệ tốt nghiệp của tỉnh là 92,77%, trong đó tỷ lệ đậu của thí sinh THPT là 96,64%, thí sinh hệ giáo dục thường xuyên là 67,65% (Năm 2018, tỷ lệ đậu tốt nghiệp chung của tỉnh là 97,08%, trong đó hệ THPT là 99,39%, còn hệ giáo dục thường xuyên 82,1%). Xếp hạng điểm trung bình thi THPT quốc gia, thí sinh Đồng Nai đạt 5,337 điểm, xếp thứ 28 trong số 63 tỉnh, thành phố trên cả nước.

Trên địa bàn tỉnh mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập với 03 trường đại học, 26 trường THPT và trường phổ thông nhiều cấp học, 126 trường mầm non, mẫu giáo, 1.144 nhóm lớp mầm non độc lập tư thục, và hơn 100 trung tâm ngoại ngữ, tin học. Số học sinh ngoài công lập mầm non chiếm 58,6%, tiểu học 3,47%, THCS 4,08%, THPT 25,44%, đại học 67,22%. Đảm bảo các điều kiện học sinh bước vào năm học mới 2019 – 2020.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường học, thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển giáo dục mầm non: Tiếp tục duy trì kết quả trường học đạt chuẩn quốc gia trong hệ thống trường công lập; tổ chức rà soát, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2015 - 2020, định hướng phát triển trường mầm non tư thục đến năm 2022, hỗ trợ trang bị cơ sở vật chất cho các nhóm trẻ tư thục ở khu vực có nhiều công nhân lao động.

d. Y tế

Tình hình dịch bệnh phát sinh trong tháng 7 năm 2019 như sau:             

- Sốt xuất huyết: Số trường hợp mắc Sốt xuất huyết ghi nhận 847 trường hợp, tăng 61,6% so với tháng trước và tăng 1,36 lần so với tháng cùng kỳ năm 2018. Số trường hợp mắc. Cộng dồn đến tháng 7 là 4.436 trường hợp, tăng 2,22 lần so với cùng kỳ năm 2018. Không ghi nhận trường hợp tử vong.

Tổng số ổ dịch sốt xuất huyết Dengue được xử lý và phát hiện trong tháng  là 118/130 ổ dịch đạt 90,77%. Số ổ dịch phát hiện tăng 1,83 lần so với tháng trước. Cộng dồn đến tháng 7 là 913 ổ dịch được xử lý/930 ổ dịch phát hiện, đạt 98,17%.

- Sởi: 139 trường hợp mắc, giảm 7,33% so với tháng trước và tăng 139 trường hợp so với tháng cùng kỳ năm 2018. Cộng dồn đến tháng 7 có 1.466 trường hợp mắc Sởi, tăng 1.463 trường hợp so với cùng kỳ 2018 (+0,2%). Không ghi nhận trường hợp tử vong.

- Sốt rét: Tính từ đầu năm có 07 trường hợp; giảm 82,1% so với cùng kỳ năm 2018. Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Tay chân miệng (TCM): Trong tháng có 382 trường hợp mắc TCM, tăng 3,2% so với tháng trước và giảm 44,63% so với tháng cùng kỳ năm 2018. Số trường hợp mắc TCM cộng dồn đến tháng 7 là 1.869 trường hợp, giảm 14,42% so với cùng kỳ. Không ghi nhận trường hợp tử vong.

- Hoạt động xử lý ổ dịch: Phát hiện 56 ổ dịch TCM và xử lý 64 (xử lý bổ sung 08 ổ dịch), đạt 100%. Cộng dồn đến tháng 7 ghi nhận 193 ổ dịch được xử lý/200 ổ dịch được phát hiện, đạt 96,5%.

d. Đào tạo nghề: Trong tháng đã tuyển mới đào tạo nghề cho 8.156 người, lũy kế từ đầu năm đến nay tuyển mới 46.694 người, đạt 61,14% kế hoạch năm.

Tính từ đầu năm đến nay có 39.355 người tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề, đạt 59,36% kế hoạch năm, trong đó: Cao đẳng 1.640 người, trung cấp 2.084 người, Sơ cấp và đào tạo thường xuyên 35.631 người (trong đó đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.059 người).

e. Giải quyết việc làm: Trong tháng đã giải quyết việc làm cho 10.654 lượt người, lũy kế từ đầu năm giải quyết 57.721 lượt người, đạt 72,15% kế hoạch năm, tăng 0,44% so với cùng kỳ. Trong đó: Đưa vào các doanh nghiệp 6.904 lượt người; Lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội khác giải quyết việc làm cho 3.747 lao động, gồm: Chương trình cho vay hộ nghèo để giải quyết việc làm cho 333 lao động; đào tạo nghề lao động nông thôn cho 252 lao động; Các chương trình khác giải quyết việc làm cho 1.103 lao động; cho vay vốn giải quyết việc làm: 1.822 lao động; đưa đi làm việc và học nghề ở nước ngoài 237 lao động.

Trong tháng 7 Trung tâm dịch vụ việc làm Đồng Nai tổ chức sàn giao dịch việc làm lần thứ 171. Có 15 công ty, đơn vị trong và ngoài tỉnh đăng ký tham gia tuyển dụng với 500 vị trí việc làm. Trong đó, nhu cầu về lao động phổ thông là 420 lao động; trình độ trung cấp là 45 người và 35 lao động có trình độ đại học, cao đẳng.

Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 21 vụ tranh chấp lao động tập thể dẫn đến đình công (giảm 04 vụ so với cùng kỳ năm 2018) với sự tham gia của 7.920/13.364 lao động, trong đó có 18 vụ xảy ra tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 03 vụ xảy ra tại doanh nghiệp có vốn trong nước.

f. Công tác giảm nghèo: Ước tháng 7 năm 2019, toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 1.225 hộ với số tiền 41.141 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến cuối tháng 7 năm 2019 toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 3.363 hộ với số tiền 160.209 triệu đồng. Trong đó số hộ nghèo vay 488 hộ với số tiền 53.413 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 1.437 hộ với số tiền 57.911 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 1.438 hộ với số tiền 48.885 triệu đồng.

 ​CỤC THỐNG KÊ ĐỒNG NAI




INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​