Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân
Tích cực tham gia Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là góp phần xây dựng tương lai cho đất nước và mỗi chúng ta
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2019

1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2019 tăng 1,77% so với tháng 10/2019 và tăng 14,76% so với tháng 11/2018. Dự ước chỉ số cộng dồn 11 tháng năm 2019 tăng 8,8% so cùng kỳ. Trong đó: ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 5,26%; ngành công nghiệp chế biến tăng 8,56%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 12,77%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,37%.

11 tháng năm 2019, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng và ổn định. Đặc biệt ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm trên 90%) ngành công nghiệp luôn tăng cao đã góp phần làm tăng chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Trong các ngành công nghiệp cấp II thì 11 tháng/2019 hầu hết các ngành đều có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng so cùng kỳ, cụ thể ở một số ngành công nghiệp chủ lực như sau: Ngành chế biến, chế tạo khác tăng 26,74%, đây là ngành có chỉ số tăng khá cao, tuy nhiên tình hình sản xuất tiêu thụ không ổn định do phụ thuộc vào hợp đồng gia công từ nước ngoài; sản xuất thiết bị điện tăng 15,26%; Sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 14,5% do thị trường xuất khẩu ổn định từ khách hàng Mỹ và liên minh Châu Âu, một số doanh nghiệp sản xuất giày da có quy mô lớn như Công ty Chang shin, Pousung, Taekwang, Việt Vinh… có mức tăng từ 8,5 – 19%; Dệt tăng 11,83%, là ngành sản xuất có quy mô khá lớn, các doanh nghiệp có hợp đồng sản xuất ổn định từ đầu năm nên duy trì được mức tăng khá; sản xuất gường, tủ, bàn ghế tăng 11,11% , ngành này năm 2019 đi vào sản xuất ổn định ,  nguyên liệu đầu vào bớt khan hiếm, giá ổn định trong khi thị trường xuất khẩu khá thuận lợi đã tạo điều kiện cho sản xuất tăng trưởng khá; Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,54%, ngành này tăng cao do các doanh nghiệp có hợp đồng sản xuất ổn định với các sản phẩm bao bì, giấy của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;  Sản xuất thuốc lá tăng 9,41%; sản xuất trang phục tăng 9,39%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,98% do dịch tả heo Châu Phi đã có xu hướng giảm nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thức ăn gia súc tăng; sản xuất đồ uống tăng 7,09%...

Bên cạnh một số ngành công nghiệp chủ lực tăng cao như trên có một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như sau: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,59%,  đây là ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho ngành dệt và các ngành khác, chỉ số cộng dồn 11 tháng ngành này tăng thấp do một số sản phẩm hóa chất của Công ty Cổ Phần HH Vedan Viet Nam; Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Rohm And Haas Việt Nam có xu hướng giảm so cùng kỳ mức giảm 25->30%. Ngành In, sao chép bản ghi các loại giảm 8,26%; sản xuất xe có động cơ giảm 6,36% do năm nay chuyển bớt sản lượng sản xuất ra chi nhánh ở miền Bắc nên sản lượng sản xuất của trụ sở chính tại Đồng Nai giảm; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,78%. Nguyên nhân do sản phẩm tiêu thụ gặp khó khăn từ đầu năm đến nay nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, một số sản phẩm không sản xuất do đó ảnh hưởng đến chỉ số chung của toàn ngành... Các ngành còn lại có mức tăng trưởng thấp.

Nhìn chung 11 tháng năm 2019 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn có mức tăng trưởng khá ở hầu hết các ngành công nghiệp thể hiện qua kết quả chỉ số sản xuất của 27 ngành kinh tế cấp II trong 11 tháng có 21/27 ngành có mức tăng. Mức tăng thấp nhất từ 0,28% (hoạt động thu gom xử lý rác thải), mức tăng cao nhất 26,74% (công nghiệp chế biến chế tạo khác). Có 6/27 ngành sản xuất chỉ số giảm so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do tình hình sản xuất còn gặp khó khăn do không có hợp đồng mới, thậm chí một số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động do đó ảnh hưởng đến chỉ số chung của toàn ngành công nghiệp.

- Chỉ số sản phẩm công nghiệp ước tháng 11 năm 2019 tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: cà phê các loại 37,7 nghìn tấn, tăng 9,54%; nước uống 11,9 triệu m3, tăng 4,8%; quần áo các loại 14.316,7 nghìn cái, tăng 8,4%; Thuốc bảo vệ thực vật 242,1 tấn, giảm 9,82%; điện sản xuất 1.017 triệu Kwh, tăng 12,14%; vải các loại 63,6 triệu m2, tăng 21,02%; đá xây dựng các loại 1.634,8 nghìn m3, tăng 1,99%; Gường, tủ, bàn ghế 1.508,6 nghìn chiếc, tăng 17,8%; thuốc lá sợi 1.807 tấn, tăng 4,09%; giày dép các loại tăng 44,8 triệu đôi, tăng 27,56%; thức ăn gia súc, thủy sản 332,8 nghìn tấn, tăng 8,45%; bao bì các loại 16,5 nghìn tấn, giảm 2,7%...

        - Chỉ số sản phẩm công nghiệp11 tháng năm 2019 các sản phẩm có chỉ số tăng, giảm so cùng kỳ như: Máy giặt (+33,33%); cà phê các loại (+24,09%); Thuốc bảo vệ thực vật (+15,9%); Quần áo các loại (+12,58%);Vải các loại (+12,16%); Thuốc lá sợi (+9,84%); giày dép các loại (+13,55%); Sợi các loại (+10,83%); Gường, tủ, bàn ghế (+7,04%); nước uống (+4,5%); Bột ngọt (+7,58%); bao bì các loại (-4,39%).v.v….

- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng11/2019 dự tính bằng 97,33% so với tháng 10/2019 và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng tăng 6,58% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng, giảm so cùng kỳ như: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+29,48%); sản xuất gường, tủ, bàn, ghế (+11,18%); sản xuất thiết bị điện (+12,25%); sản xuất trang phục (+7,81); sản xuất đồ uống (+6,62%);  Dệt (+11,91%); sản xuất da và các sản phẩm liên quan (+12,38%); sản xuất sản phẩm thuốc lá (-6,11%); sản xuất xe có động cơ (-20,56%); sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu (-15,14%); sản xuất sản phẩm từ cao su (-3,05%)…

- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/11/2019 dự tính  tăng 3,15% so với tháng trước và tăng 23,57% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ nhưsản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+32,77%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (+13,31%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (+4,98%); chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ (+20,40%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+17,06%); dệt (+18,23%)... một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: sản xuất thiết bị điện (-15,64%); sản xuất gường, tủ , bàn ghế (-5,46%)…

- Chỉ số sử dụng lao động: Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có sự biến động đáng kể. Chỉ số lao động trong các doanh nghiệp tháng 11 tăng 2,04% so với tháng 10 và tăng 4,49% so cùng kỳ năm 2018, trong đó: doanh nghiệp nhà nước tăng 0,01% so tháng trước và tăng 1,86% so cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước tương ứng tăng 3,26% và tăng 6,51%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 1,98% và tăng 4,49%. Như vậy so với tháng trước chỉ số lao động của các doanh nghiệp tăng lên do các doanh nghiệp tuyển dụng thêm lao động để thực hiện hoàn thành kế hoạch cũng như các hợp đồng sản xuất cuối năm. Số lao động đang làm việc trong các ngành khai khoáng tương đương tháng trước và giảm 1,74% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tương ứng tăng 2,07% và 4,6%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng tương đương tháng trước và tăng 12,23%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% so tháng trước và giảm 1,1% so cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động 11 tháng của doanh nghiệp tăng 0,61% so cùng kỳ. Chia theo loại hình, doanh nghiệp nhà nước giảm 3,9%; doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 3,53%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 1,1%. Chia theo ngành kinh tế cấp I: ngành khai khoáng giảm 11,36%; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,66%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng tăng 3,65%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 4,13% so cùng kỳ.

         2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

2.1. Nông nghiệp

a. Cây hàng năm

Sản xuất cây hàng năm tháng 11 và 11 tháng trên địa bàn tỉnh có những thuận lợi về giá tiêu thụ sản phẩm hàng nông sản ổn định, giá vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu; công tác tưới, tiêu tốt, việc áp dụng các biện pháp khoa học cho một số cây trồng được người dân quan tâm thực hiện.Tình hình sản xuất cây hàng năm cụ thể như sau:

 Cây lúa hiện nay đã thu hoạch xong vụ Đông xuân và Hè thu, riêng vụ Mùa tính đến tháng 11 đã hoàn thành việc gieo trồng đạt 21.102 ha, giảm 2,39% so cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do huyện Nhơn Trạch giao đất cho dự án làm đường cao tốc Bến Lức - Nhơn Trạch - Long Thành - Bà Rịa Vũng Tàu; diện tích thu hoạch ước đạt 88,1% so với tổng diện tích toàn vụ, tăng 1,76% so cùng kỳ; ước sản lượng vụ Mùa đạt 102.084 tấn, tăng 1,24% (+1.246 tấn) so cùng kỳ.

Một số cây hàng năm khác như: Cây bắp trong tháng 11 tiếp tục gieo trồng đạt 2.586 ha, giảm 28,86% so cùng kỳ, nguyên nhân là do một số diện tích bắp của vụ Hè thu thu hoạch chậm, nên ảnh hưởng đến khâu làm đất xuống giống của một số địa phương; Lũy kế 11 tháng đạt 38.650 ha, giảm 0,92% (- 357 ha) so cùng kỳ; ước sản lượng thu hoạch đạt 284.108 tấn, giảm 0,69% (-1.976 tấn) so cùng kỳ.

Cây khoai lang: Trong tháng 11 diện tích gieo trồng ước đạt 17 ha, giảm 41,38% (-12 ha) so cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 425 ha, tăng 5,2% (+5,2%) so cùng kỳ.

Đối với cây Mía diện tích gieo trồng tháng 11 là 918 ha, lũy kế 11 tháng đạt 7.657 ha, tăng 6,42% ha (+462 ha) so với cùng kỳ; Diện tích thu hoạch đạt 7.565 ha, tăng 5,14% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch đạt 581.907 tấn, giảm 13,52% (-90.95 tấn), so với cùng kỳ, nguyên nhân giảm sản lượng là do các đơn vị thu mua giảm giá xuống, người dân không bán do không đủ chi phí, dẫn đến sản lượng thu hoạch bị ứ động, gây thiệt hai cho người sản xuất.

Đối với cây đậu nành diện tích 11 tháng  đạt 366 ha, tăng 3,68% (+13 ha); sản lượng đạt 596 tấn, tăng 10,03% (+54 tấn) so cùng kỳ.

Đối với cây lạc diện tích trong 11 tháng đạt 1.224 ha, giảm 7,55% (-100 ha), so với cùng kỳ. nguyên nhân giảm là do diện tích gieo trồng của một số địa phương bị thu hẹp bởi các dự án xây dựng khu công nghiệp và xây dựng đô thị; Sản lượng thu hoạch đạt 2.673 tấn, tăng 5,24% (+133 tấn), nguyên nhân tăng là do năng suất gieo trồng của một số địa phương trong năm đã đầu tư về kỹ thuật khoa học và quy hoạch các xã trọng điểm về phát triển cây trọng điểm của xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.

Đối với cây rau các loại: Trong 11 tháng qua đạt 14.897 ha, tăng 10,17% (+1.375 ha), so cùng kỳ; nguyên nhân tăng là do thị trường tiêu thu xã hội tăng cao và các đơn vị sản xuất chú trọng các khâu chất lượng như trồng rau sạch, chất lượng cao của các hộ dân cư, tổ hợp tác và các hợp tác xã rau sạch, hơn nữa diện tích tăng là do chuyển đổi từ các cây hàng năm kém hiệu quả sang trồng các loại rau củ, quả có năng suất dảm bảo chất lượng tiêu thụ trên thị trường, đáp ứng với thị hiếu người tiêu dùng.

Cây đậu các loại: Trong 11 tháng đạt 4.109 ha, giảm 0,17% (-7 ha) so cùng kỳ; Sản lượng đạt 5.215 tấn, giảm 1,86% (- 99 tấn) so cùng kỳ.

b. Cây lâu năm

Tổng diện tích hiện có cây lâu năm tòan tỉnh đến tháng 11/2019 là 173.705 ha, bằng 100,02% và tăng 41,49 ha so cùng kỳ, trong đó nhóm cây ăn quả là 58.586,57 ha, tăng 0,73%, chủ yếu tăng diện tích cây xoài ở Huyện Định Quán và Xuân Lộc, cây chuối ở Huyện Thống Nhất, Trảng Bom, Định Quán và Tân Phú; nhóm cây công nghiệp lâu năm là 115.118,42 ha, giảm 0,33% so cùng kỳ, nhóm cây này giảm mạnh ở các loại cây, điều, tiêu và cao su, nguyên nhân giảm do một số diện tích cao su, điều năng suất đạt thấp, do đó người dân chuyển sang trồng các loại cây ăn quả như: xoài cao sản, chuối cấy mô, sầu riêng có hiệu quả kinh tế cao hơn.

- Sản lượng cây lâu năm: Dự ước sản lượng một số cây trồng đến tháng 11 năm 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Xoài tháng 11 đạt 4.125 tấn, tăng 17,25% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 88.244,3 tấn, tăng 2,13% so cùng kỳ; Chuối tháng 11 đạt 10.205,45 tấn, tăng 12,44% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 101.530,95 tấn, tăng 4,16% so cùng kỳ; Cam tháng 11 đạt 958,21 tấn, đạt 100,34% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 8.797,91 tấn, tăng 1,35% so cùng kỳ; Bưởi tháng 11 đạt 5.542,56 đạt tăng 5,75% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 45.167,96 tấn, tăng 4,19% so cùng kỳ, nguyên nhân các loại cây ăn quả tăng là do người dân chủ động được khâu chăm sóc, phòng bệnh tốt nên sản lượng đạt khá, đặc biệt là sản lượng bưởi ở huyện Vĩnh Cữu, Trảng Bom, Thống Nhất; chuối ở huyện Trảng Bom, Thống Nhất, Xuân Lộc; Cam ở huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc.. là cây có thế mạnh trên địa bàn, giá bán lại ổn định, được thị trường xã hội đón nhận, nên người dân mạnh dạn đầu tư sản xuất.

* Công tác bảo vệ thực vật và thủy lợi.

- Công tác bảo vệ thực vật: Sinh vật gây hại trên cây trồng trong tháng 11 năm 2019 nhiễm ở mức nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng phát triển của cây trồng. Các sinh vật hại nguy hiểm như rầy nâu, bệnh đạo ôn (lúa); bệnh thối gốc rễ, xì mủ thân cành cây ăn trái, bệnh chết nhanh, chết chậm trên hồ tiêu vẫn hiện diện trên đồng ruộng nhưng ở mức thấp, chưa ảnh hưởng đến năng suất. Đáng lưu ý là bệnh khảm lá mì và sâu keo vẫn xuất hiện trên diện tích sắn nhiễm bệnh khảm. Sâu keo mùa thu diện tích nhiễm chỉ còn rải rác một số diện tích mới gieo trồng.

- Công tác bảo vệ thủy lợi: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 130 công trình thủy lợi đang hoạt động, gồm: 16 hồ chứa, 56 đập dâng, 35 trạm bơm, 23 công trình tạo nguồn, ngăn mặn, tiêu thoát. Tổng số chiều dài kênh mương là 1.031,24 km, trong đó 339,22 km được kiên cố hóa bằng bê tông (trong năm 2019 có thêm 7 km kênh mương được kiên cố hóa). Các công trình thủy lợi đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần phục vụ phát triển sản xuất (khoảng 11% diện tích đất sản xuất được chủ động tưới từ công trình); diện tích đất sản xuất áp dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm là 45.991 ha (tăng 2.000 ha so cùng kỳ), chiếm khoảng 33% so với tổng diện tích có nhu cầu áp dụng trên địa bàn tỉnh.

c. Chăn nuôi

Tháng 11 năm 2019 tình hình dịch tả heo Châu Phi vẫn còn ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Tính đến ngày 30/10, toàn tỉnh có 5.256 hộ chăn nuôi thuộc 136 xã, phường của 11 huyện, thành phố xuất hiện dịch với tổng số heo bị chết và tiêu hủy hơn 438 ngàn con, dịch bệnh chưa có dấu hiệu dừng lại, nguy cơ lây nhiễm trên tất cả các địa phương rất cao. Số lượng dịch bệnh và tiêu hủy tập trung chủ yếu tại các huyện: Thống Nhất (chiếm 22%), Trảng Bom (chiếm 18,7%), Vĩnh Cửu (chiếm 17 %) và Long Thành (chiếm 17 %).

Dự ước số lượng gia súc và gia cầm tháng 11 năm 2019

 

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Chính thức cùng kỳ

Ước thực hiện kỳ báo cáo

So sánh cùng kỳ (%)

I. Gia súc

Con

2.512.234

2.186.083

87,02

1. Trâu

Con

3.365

3.331

98,99

2. Bò

Con

82.164

82.496

100,40

Tr. đó: Bò sữa

Con

622

614

98,71

3. Lợn (Không tính lợn con chưa tách mẹ)

Con

2.426.705

2.100.256

86,55

II. Gia cầm

1000 con

23.655,86

25.538,43

107,96

Trong đó: Gà

1000 con

22.245,16

24.403,30

109,70


Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 11/2019 là 2.186.083 con, giảm 326.151 con (-12,98%) so cùng kỳ. Trong đó trâu đạt 3.331 con giảm 1,01%, bò đạt 82.496 con tăng 0,4%; heo đạt 2.100.256 con (trong đó lượng đàn heo trong các doanh nghiệp trên địa bàn 860 nghìn con, chiếm 41%), giảm 13,45% tương đương giảm 326.449 con. Nguyên nhân tổng đàn heo giảm mạnh là do ảnh hưởng của dịch tả heo Châu Phi vẫn chưa dừng lại, việc xử lý và phòng chống vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có biện pháp khắc phục, một số trang trại có qui mô lớn xử lý bằng cách rời sang nuôi chuồng lạnh, nhằm duy trì đàn heo để phục hồi, tuy nhiên số lượng cũng hạn chế. Bên cạnh số heo bị dịch chết thì các hộ chăn nuôi cũng không tái đàn, làm cho đàn heo giảm mạnh. Trong khi đó, nhu cầu thị trường về mặt hàng heo hơi đang tăng do cung cấp thêm cho các tỉnh phía Bắc, khiến nguồn cung thiếu hụt. Giá heo hơi tiếp tục tăng mạnh, giá heo đến ngày 15/11 đã đạt mức 72.000 đến 75.000 đồng/kg.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 11/2019 là 25.538,43 ngàn con, tăng 7,96% so cùng kỳ. Trong đó gà đạt 24.403,3 ngàn con, tăng 9,7% và chiếm 95,56% tổng đàn gia cầm. Do thị trường tiêu thụ xã hội và xuất khẩu ổn định, đồng thời có xu hướng tăng, nên các trang trại đã chủ động tăng đàn. So với các loại vật nuôi khác, chăn nuôi gà có lợi thế về hiệu quả kinh tế do vòng quay ngắn, hệ số nhân đàn nhanh và trong vùng có một số công ty lớn, như: CP, Japfa, Emivest… tổ chức cho người dân chăn nuôi gia công, nên đàn gia cầm có điều kiện phát triển nhanh.

 Sản lượng sản phẩm:  Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh 11 tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước 195,7 tấn, tăng 0,05%; thịt bò dự ước 3.656,92 tấn, tăng 0,56%; thịt heo 385.029 tấn, giảm1,66%; thịt gia cầm 144.171,05 tấn, tăng 5,05%; Trứng gia cầm là 1.679.783 ngàn quả, tăng 13,1% so cùng kỳ.

2.2. Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng

Trong tháng 11 năm 2019 về cơ bản các đơn vị lâm nghiệp đã hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2019, do đó các đơn vị lâm nghiệp hiện tại chú trọng vào việc chăm sóc diện tích rừng trồng mới và bảo vệ các diện tích rừng hiện có, kết hợp tiến hành trồng dặm các diện tích cây rừng bị chết và tiếp tục trồng phần diện tích rừng còn trống.

Dự ước trong tháng 11 diện tích rừng trồng mới đạt 76,93 ha, tăng 12,5% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đạt 4.198 ha, giảm 1,51% so với cùng kỳ.

        Số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán dự ước 11 tháng đạt 190,5 ngàn cây giảm 32,64% so với cùng kỳ.

        - Khai thác gỗ và lâm sản:

Tháng 11 năm 2019 việc khai thác rừng vẫn được các chủ rừng tiếp tục triển khai theo đúng kế hoạch, cụ thể: Sản lượng gỗ khai thác dự ước tháng 11 đạt 23.677 m3, tăng 17,65% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 237.619,2 m3 tăng 10,94% so cùng kỳ, Sản lượng khai thác gỗ năm nay tăng khá là do diện tích rừng đã đến kỳ khai thác, chủ yếu là rừng sản xuất làm nguyên liệu giấy với các loại gỗ tràm cao sản, keo lai...

Sản lượng củi khai thác dự ước tháng 11 ước đạt 83 ste bằng 100,61% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 11 tháng đạt 887,9 ste tăng 0,5% so cùng kỳ.

- Công tác PCCCR và quản lý bảo vệ rừng:

Chi cục Kiểm lâm tiếp tục thực hiện kế hoạch Quản lý bảo vệ rừng năm 2019; Xây dựng kế hoạch phúc tra công tác PCCCR tại các đơn vị chủ rừng; Triển khai thực hiện Dự án Nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng Kiểm lâm. Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng của các đơn vị chủ rừng. Phối hợp với các lực lượng chức năng và đơn vị chủ rừng tăng cường tổ chức tuần tra, kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại những địa bàn trọng điểm và các khu vực giáp ranh với tỉnh bạn để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ vi phạm.

Trong tháng 11 không xảy ra vụ cháy rừng nào. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2019 xảy ra 2 vụ cháy gây thiệt hại 0,82 ha rừng trồng keo.

2.3. Thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản hiện có là 7.569 ha, giảm 4,12% so với cùng kỳ năm trước (-325 ha). Trong đó: diện tích nuôi cá đạt 5.395 ha giảm 5,64% (-322 ha); diện tích nuôi tôm sú đạt 1.329 ha, giảm 2,67% (-36,51 ha) so cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do những năm trước người dân tận dụng các đầm, hốc đá để nuôi nay không được phép nuôi nữa, một phần diện tích nuôi tôm giảm vì nuôi quãng canh lệ thuộc vào con nước, hiệu quả đạt không cao.

        Dự ước tổng sản lượng thủy sản tháng 11/2019 đạt 5.752,55 tấn, giảm  5,18% so với tháng cùng kỳ, trong đó cá đạt 5.143,81 tấn, giảm 0,5%; tôm đạt 410,5 tấn, giảm 44,08%, thủy sản khác đạt 198,24 tấn, tăng 21,56% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng sản lượng thủy sản đạt 56.822,49 tấn, tăng 3,32% so với cùng kỳ, trong đó cá tăng 2,07%, tôm tăng 12,83%, thủy sản khác tăng 16,09% so với cùng kỳ.

        Trong tổng sản lượng thủy sản thì sản lượng thủy sản khai thác tháng 11 đạt 924,39 tấn, giảm 14,46% so với tháng cùng kỳ, trong đó cá giảm 7,95%, tôm giảm 32,49%; thủy sản khác giảm 57,36% so với cùng kỳ,  lũy kế 11 tháng đạt 7.001,39 tấn, tăng 1,45% so với cùng kỳ.

        ​Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 11 ước đạt 4.828,16 tấn, giảm 3,17% so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 4.301,12 tấn tăng 1,1%, tôm đạt 380 tấn, giảm 44,84%,  thủy sản khác đạt 147,04 tấn, tăng 238,95% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng ước đạt 49.821,1 tấn, tăng 3,58% so với cùng kỳ, trong đó cá tăng 2,05%, tôm tăng 13,61%, thủy sản khác tăng 86,24%.

3. Thương mại, giá cả, xuất nhập khẩu, vận tải và du lịch

Tháng 11 và 11 tháng năm 2019, kinh tế nói cung tiếp tục phát triển, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Chỉ số giá tiêu dùng được duy trì ở mức thấp, thu nhập của người dân tăng lên do đó tiêu dùng hàng hoá trong dân cư ngày càng tăng về cả số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh đó các doanh nghiệp, siêu thị và cửa hàng kinh doanh thương mại đưa ra nhiều chương trình giảm giá bán, khuyến mại hấp dẫn đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa... đã tác động kích cầu tiêu dùng, làm cho nhu cầu mua sắm của người dân cũng tăng lên đáng kể. Dịch vụ lưu trú, ăn uống và một số ngành dịch vụ khác tăng khá. Hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa đường bộ phát triển mạnh. Tình hình thương mại, vận tải, dịch vụ lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác tháng 11 và11 tháng đầu năm 2019 như sau:

a. Thương mại

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11 năm 2019 ước đạt 14.604,67 tỷ đồng, tăng 0,77% so tháng trước. Dự ước 11 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 159.239 tỷ đồng, tăng 11,63% so cùng kỳ và đạt 89,06% so kế hoạch năm.

Tình hình bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 11 và 11 tháng năm 2019 phân theo ngành hoạt động

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2019 dự ước đạt 10.987,34 tỷ đồng, tăng 0,81% so tháng trước và tăng 11,83% so cùng kỳ. Nhìn chung thị trường hàng hóa trong tháng 11 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tương đối ổn định, các mặt hàng phong phú, đa dạng về mẫu mã, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống ổn định, nhu cầu mua sắm có phần sôi động hơn do có nhiều chương trình khuyến mãi. Dự ước 11 tháng đạt 120.243,58 tỷ đồng, tăng 11,83% so cùng kỳ. Cụ thể ở một số nhóm ngành như sau:

+ Nhóm lương thực, thực phẩm dự tính tháng 11 đạt 2.619,66 tỷ đồng, tăng 0,96% so tháng trước, tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước. Do trong tháng 11 giá cả một số mặt hàng thực phẩm tiếp tục tăng mạnh như thịt heo… Mặt khác là thời điểm cuối năm nên nhu cầu sử dụng bia, rượu, nước ngọt... tăng lên đã làm cho doanh thu tăng so tháng trước. Dự ước 11 tháng đạt 28.868,25 tỷ đồng, tăng 14,3% so cùng kỳ. Đây là nhóm hàng có tốc độ tăng cao nhất so cùng kỳ.

+ Nhóm hàng may mặc ước đạt 462,8 tỷ đồng, tăng 0,69% so tháng trước và tăng 9,05% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do gần vào thời điểm cuối năm, các cửa hàng thanh lý, xả kho, giảm giá bán một số loại mặt hàng như quần áo, giày dép để chuẩn bị hàng mới cho những ngày lễ cuối năm, nhu cầu mua sắm có phần tăng đã làm cho doanh thu nhóm này tăng. Dự ước 11 tháng đạt 5.090,53 tỷ đồng, tăng 11,74% so cùng kỳ.

 + Nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.262,33 tỷ đồng, tăng 0,89% so tháng trước và tăng 9,14% so cùng kỳ năm trước; Do trong tháng có chương trình khuyến mại, giảm giá bán một số loại sản phẩm như máy giặt, bình nước nóng, nồi cơm điện... cho nên nhu cầu mua sắm tăng đã làm cho doanh thu trong nhóm tăng. Dự ước 11 tháng đạt 13.642,2 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ.

+ Nhóm Gỗ và vật liệu xây dựng dự ước tháng 11/2019 đạt 1.491,5 tỷ đồng, tăng 0,61% so tháng trước, tăng 13,87 % so cùng kỳ năm trước. Do nhu cầu xây dựng, sửa chữa các công trình công ích tiếp tục được thi công, mặt khác do gần vào thời điểm cuối năm nên nhu cầu sửa chữa nhà của người dân cũng tăng đã làm cho doanh thu trong tháng tăng. Dự ước 11 tháng đạt 17.100,6 tỷ đồng, tăng 12,48% so cùng kỳ.

+ Nhóm vàng, bạc, đá quý, kim loại quý ước đạt 287,46 tỷ đồng, tăng 0,71% so tháng trước, tăng 9,49% so cùng kỳ năm trước. Dự ước 11 tháng/2019 đạt 2.496 tỷ đồng, tăng 9,22% so cùng kỳ.

+ Các nhóm hàng còn lại hầu hết đều tăng nhẹ so tháng và tăng so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ l­ưu trú tháng 11 ước đạt 26,78 tỷ đồng, giảm 0,63% so tháng trước, tăng 4,06% so cùng tháng năm trước. Lượt khách phục vụ đạt 275.068 lượt khách, giảm 0,5% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước tăng 2,98%; Ngày khách phục vụ đạt 195.126 ngày, giảm 0,82% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 0,37%. Dự ước 11 tháng đạt 297,17 tỷ đồng, tăng 4,85% so cùng kỳ. Lượt khách phục vụ đạt 3.059.876 lượt khách, so cùng kỳ tăng 4,17%; Ngày khách phục vụ đạt 2.257.734 ngày, so cùng kỳ tăng 4,84%.

- Dịch vụ ăn uống tháng 11 ước đạt 1.344 tỷ đồng, tăng 0,62% so tháng trước; Dự ước 11 tháng ước đạt 14.575,1 tỷ đồng, tăng 12% so cùng kỳ. Ngoài việc đầu tư cơ sở hạ tầng lịch sự, hiện đại còn quan tâm tới chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm nên thu hút được nhiều khách hàng đã góp phần làm cho doanh thu hoạt động này tăng so cùng kỳ.

- Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 11/2019 ước đạt 8,27 tỷ đồng, giảm 0,76% so tháng trước, tăng 6,16% so cùng kỳ năm trước. Lượt khách du lịch theo tour 13.996 lượt, giảm 0,43% so tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 5,81%; Ngày khách du lịch theo tour 30.376 ngày, giảm 0,56% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước tăng 0,56%. Dự ước 11 tháng đạt 91,74 tỷ đồng, tăng 8,33% so cùng kỳ; Lượt khách du lịch theo tour 153.366 lượt, so cùng kỳ năm trước tăng 6,67%; Ngày khách du lịch theo tour 332.188 ngày, tăng 1,09% so cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do các khu du lịch đã có bước đột phá khởi sắc với nhiều công trình, hạ tầng du lịch được đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu của người dân, thu hút lượng khách đến thăm quan trên địa bàn ngày càng nhiều.

- Doanh thu dịch vụ khác tháng 11 ước đạt 2.238,29 tỷ đồng, tăng 0,67% so tháng trước; tăng 10,05% so cùng tháng năm trước. Dự ước 11 tháng ước đạt 24.031,44 tỷ đồng, tăng 10,52% so cùng kỳ. Cụ thể ở một số ngành như:

+ Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản: Ước đạt 654,59 tỷ đồng, tăng 0,42% so tháng trước, tăng 5,51% so cùng kỳ năm trước. Dự ước 11 tháng đạt 7.081,39 tỷ đồng, tăng 7,24% so cùng kỳ. Việc Nhà nước kiểm tra Tập đoàn AliBaBa đã ảnh hưởng tới thị trường bất động sản. Tuy nhiên, việc UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch đất ở, khu dân cư, tái định cư ở một số khu vực đã thu hút nhiều nhà đầu tư. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp cho thuê mặt bằng, nhận được hợp đồng mới đã làm cho doanh thu ngành này tăng so cùng kỳ.

  + Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ: Ước đạt 259,89 tỷ đồng, tăng 1,18% so tháng trước, tăng 9,65% so cùng kỳ năm trước. Dự ước 11 tháng đạt 2.806,07 tỷ đồng, tăng 10,65% so cùng kỳ. Trong tháng nhu cầu thuê máy móc thiết bị phục vụ các công trình xây dựng tăng làm cho doanh thu ngành cho thuê máy móc thiết bị tăng. Các công ty gia tăng sản xuất để chuẩn bị hàng phục vụ vào dịp cuối năm nên nhu cầu đối với lao động thời vụ tăng làm cho doanh thu các hoạt động lao động việc làm, dịch vụ bảo vệ, vệ sinh nhà cửa…tăng so với tháng trước.

  + Dịch vụ giáo dục và đào tạo: Ước đạt 168,68 tỷ đồng, tăng 1,03% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,85%. Dự ước 11 tháng đạt 1.817 tỷ đồng, tăng 10,34% so cùng kỳ. Hoạt động giáo dục tại các trường học so với tháng trước tương đối ổn định. Tuy nhiên, nhu cầu đào tạo ngoại ngữ, tin học, giáo dục kỹ năng sống tại các trung tâm ngày càng tăng đã làm cho doanh thu dịch vụ giáo dục đào tạo tăng so với tháng trước.

          + Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội: Ước đạt 166,49 tỷ đồng, tăng 0,72% so tháng trước, tăng 16,05% so cùng kỳ năm trước. Dự ước 11 tháng đạt 1.745 tỷ đồng, tăng 15,74% so cùng kỳ. Do đang trong thời điểm giao mùa, tình hình dịch bệnh tăng nên nhu cầu đối với các dịch vụ y tế tăng.

b. Giá cả thị trường

        Tháng 11 tình hình giá cả biến động theo xu hướng tăng khá cao so với các thị trường gần đây. Chỉ số giá tháng 11 tăng 0,45% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 3,79%; tăng 3,93% so tháng 12 năm trước; chỉ số giá bình quân 11 tháng tăng 2,74% so cùng kỳ.

        Tình hình giá cả các loại hàng hóa tăng, giảm như sau:

        * Chỉ số giá tiêu dùng

        - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước tăng 1,38%; tăng 4,32% so cùng tháng năm trước; tăng 4,05% so tháng 12 năm trước và tăng 3,98% so bình quân cùng kỳ. Trong đó:

+ Nhóm lương thực tăng 0,67% so tháng trước; giảm 0,14% so cùng tháng năm trước; bình quân 11 tháng giảm 0,71% so cùng kỳ. Nguyên nhân là do trong tháng giá các mặt hàng thóc tăng trở lại; giá xuất khẩu gạo trong nước đang tăng; bên cạnh đó tháng 11 là tháng cuối năm nên giá gạo có xu hướng tăng hiện nay các chủ vựa gạo tập trung nhập gạo để phục vụ nhu cầu tết làm cho giá các mặt hàng này tăng như gạo tẻ thường tăng 0,95%; gạo tẻ ngon tăng 0,21%…

        + Nhóm hàng thực phẩm trong tháng tăng 2,11% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 5,22%, so tháng 12 năm trước tăng 4,89% và bình quân cùng kỳ tăng 5,45% đây là nhóm hàng tăng cao nhất, nguyên nhân trong tháng 11 giá các mặt hàng thịt heo tiếp tục tăng mạnh; giá heo hơi hiện nay người dân nuôi khoảng 68.000 đồng/kg; giá ở trong các trại chăn nuôi khoảng 72.000 đồng/kg, do nguồn cung giảm mạnh trong thời gian qua do đó đẩy giá tăng cao đã làm cho nhóm hàng này tăng.

        - Nhóm may mặc, mũ, nón, giày dép: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước tăng 0,01%; so tháng 12 năm trước tăng 1,64%; so cùng tháng năm trước tăng 2,9% và so bình quân cùng kỳ tăng 3,25%.

        - Nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,33% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 6,76%, so tháng 12 năm trước tăng 7,33% và so bình quân cùng kỳ tăng 5,08%. Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu nhóm nhà ở thuê khu vực thành thị tăng 0,48%; giá gas tăng 0,98%, giá điện tăng 0,58%; nước tăng 1,29% so tháng trước.

        - Nhóm thiết bị đồ dùng gia đình:  Chỉ số giá nhóm này trong tháng giảm 0,15% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 1,07%; so tháng 12 năm trước tăng 0,99% và so bình quân cùng kỳ tăng 1,02%. Do các cửa hàng chủ động giảm giá bán để thanh lý hàng tồn kho chuẩn bị nhập hàng mới mục phụ nhu cầu mua sắm cuối năm nên giá nhiều mặt hàng giảm, như: máy vi tính và phụ kiện giảm 0,35%; các mặt hàng xà phòng và chất tẩy rửa giảm 0,26%...

        - Nhóm giao thông: Chỉ số giá nhóm này giảm 0,82% so tháng trước; so cùng tháng năm trước giảm 2,27%; so tháng 12 năm trước tăng 3,12% và bình quân cùng kỳ giảm 1,79%. Trong tháng 11 giá xăng, dầu có 1 lần điều chỉnh tăng và 1 lần điều chỉnh giảm, chỉ số giá nhóm nhiên liệu bình quân giảm 1,6%. Cụ thể: Giá xăng A95 (-1,3%); Giá xăng E5 (-1,2%); Giá dầu diezen (-2,6%).

        - Các nhóm còn lại có chỉ số giá ổn định, tăng giảm không nhiều.

        * Giá vàng: Giá vàng trong tháng tiếp tục biến động do ảnh hưởng của giá vàng thế giới giảm làm cho giá vàng trong nước giảm. Trong tháng  giá vàng giảm 1,12% so tháng trước; so cùng tháng năm trước giá vàng tăng 18,79%; so tháng 12 năm trước tăng 17,11% và bình quân cùng kỳ tăng 8,03%.

        * Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này tăng 0,28% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước giảm 0,4%; so tháng 12 năm trước giảm 0,27% và so bình quân cùng kỳ tăng 0,8%.

        c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

* Xuất khẩu: Ước kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11 năm 2019 trên địa bàn tỉnh đạt 1.751,2 triệu USD, tăng 0,15% so tháng trước. Ước kim ngạch xuất khẩu 11 tháng/2019 đạt 17.771,6 triệu USD, tăng 5,66% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 446,27 triệu USD, tăng 4,11%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.830,72 triệu USD, tăng 4,85%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13.115,67 triệu USD, tăng 5,07% so cùng kỳ. Nguyên nhân làm cho kim ngạch xuất khẩu 11 tháng tăng thấp (tăng 5,66%), trong khi mục tiêu cả năm tăng 9 – 11% là do ảnh hưởng của thị trường thế giới, giá xuất khẩu hàng nông sản giảm mạnh, hợp đồng xuất khẩu năm nay cũng giảm so với năm trước do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc.

Một số ngành hàng xuất khẩu 11 tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Cao su ước đạt 58,2 triệu USD (+45,74%); Giày, dép các loại ước đạt 3.899 triệu USD (+16,42%); Máy móc thiết bị ước đạt 1.551 triệu USD (+15,16%); Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 882,2 triệu USD (+10,58%); Sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 325,6 triệu USD (+7,73%); Sản phẩm gỗ đạt 1.362,5 triệu USD (+7,29%); Hàng dệt may đạt 1.850,9 triệu USD (+3,3%); Hạt tiêu đạt 33,8 triệu USD (+0,77%); Hạt điều đạt 300,9 triệu USD (+0,58%); Sản phẩm sắt thép đạt 647,2 triệu USD (-1,38%); Xơ, sợi dệt đạt 1.325,6 triệu USD (-6,87%); Máy vi tính, sản phẩm điện tử đạt 565,4 triệu USD (-4,29%); Cà phê đạt 344,2 triệu USD (-16,09%) so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu tháng 11 vẫn tập trung chủ yếu ở các nước: Hoa Kỳ đạt 488,5 triệu USD, chiếm 29,3%; Nhật Bản đạt 190,8 triệu USD, chiếm 11,9%; Trung Quốc đạt 200,4 triệu USD, chiếm 11,9%; Các thị trường khác có kim ngạch xuất khẩu khá như: Hàn Quốc, Bỉ, Hong Kong, Thái Lan, Đức, Úc… chiếm tỷ trọng từ 2,1% đến 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu.

* Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 11 năm 2019 ước đạt 1.637,15 triệu USD. Dự ước 11 tháng đạt 14.755,99 triệu USD, tăng 0,13% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 278,46 triệu USD, tăng 0,07%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.574,01 triệu USD, tăng 0,09%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11.903,52 triệu USD, tăng 0,14% so cùng kỳ. Như vậy tính chung 11 tháng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn tỉnh chỉ tương đương cùng kỳ. Nguyên nhân kim ngạch nhập khẩu 11 tháng tăng thấp là do giá các mặt hàng nông sản giảm mạnh từ 9,1% đến 32,49% so cùng kỳ. Mặt khác do xuất khẩu tăng thấp nên nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất giảm. Tuy nhiên dự ước 11 tháng xuất siêu trên địa bàn khoảng 3 tỷ USD cao hơn cùng kỳ năm 2018.

Một số mặt hàng nguyên liệu có số lượng và giá trị ước nhập khẩu tăng, giảm 11 tháng như sau: Hạt điều đạt 80.704 tấn, tăng 33,68% về lượng và giảm 9,76% về giá trị; Thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 725,02 triệu USD, giảm 1,32%; Ngô đạt 2.090.688 tấn và 433,06 triệu USD, tăng 55,86% về lượng và tăng 50,99% về giá trị; Cao su đạt 95.755 tấn và 183,21 triệu USD, tăng 33,62% về lượng và tăng 13,54% về giá trị; Bông các loại đạt 322.795 tấn và 576,1 triệu USD, giảm 9,37% về lượng và giảm 16,09% về giá trị; Chất dẻo nguyên liệu đạt 792.453 tấn và 1.362,68 triệu USD, tăng 7,97% về lượng và giảm 1,86% về giá trị; Xơ, sợi dệt các loại đạt 205.547 tấn và 444,36 triệu USD, giảm 0,32% về lượng và giảm 7,66% về giá trị…

Thị trường nhập khẩu trong tháng 11/2019 chủ yếu ở các nước: Trung Quốc ước đạt 360,7 triệu USD, chiếm 19%; Hàn Quốc ước đạt 283,1 triệu USD, chiếm 16,8%; Đài Loan ước đạt 196,5 triệu USD, chiếm 11,9% tổng kim ngạch nhập khẩu. Các thị trường khác cũng có kim ngạch nhập khẩu khá cao như: Hoa kỳ; Nhật Bản; Thái Lan; Brazil; Indonesia, Malaysia…. chiếm tỷ trọng từ 2,2% đến 10,5% tổng kim ngạch nhập khẩu.

d. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi tháng 11/2019: Dự ước doanh thu đạt 1.592,04 tỷ đồng, tăng 0,65% so tháng trước và tăng 13,71% so cùng tháng năm trước.Cụ thể:

+ Vận tải hành khách dự tính đạt 195,72 tỷ đồng, tăng 0,56% so tháng trước và tăng 12,89% so cùng tháng năm trước. Khối lượng vận chuyển ước đạt 5.798 nghìn HK, tăng 0,36% so tháng trước và tăng 6,78% so cùng tháng năm trước; Khối lượng luân chuyển ước đạt 369.969 nghìn HK.km, tăng 0,37% so  tháng trước và tăng 6,2% so cùng tháng năm trước.

+ Vận tải hàng hóa ước đạt 825,84 tỷ đồng, tăng 0,47% so tháng trước và tăng 13,93% so cùng tháng năm trước. Ước sản lượng vận tải hàng hóa tháng 11 năm 2019 đạt 5.586 nghìn tấn vận chuyển, so tháng trước tăng 0,32% và tăng 6,79% so cùng tháng năm trước; Khối lượng luân chuyển 409.032 nghìn tấn – km, so tháng trước tăng 0,35% và tăng 7,39% so cùng kỳ năm trước.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 570,47 tỷ đồng, tăng 0,92% so tháng trước và tăng 12,65% so cùng tháng năm trước.

Hoạt động vận tải, kho bãi 11 tháng năm 2019: Dự ước doanh thu đạt 17.163,78 tỷ đồng, tăng 13,29% so cùng kỳ.

+ Vận tải hành khách dự ước doanh thu 11 tháng đạt 2.116,95 tỷ đồng, tăng 12,44%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 62.901 nghìn HK, tăng 6,21%; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.336.934 nghìn HK.km, tăng 6,31% so cùng kỳ. Trong đó: Đường bộ đạt 61.793 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 6,29% và 3.336.288 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 6,31%; đường sông đạt 1.107,8 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 2% và 646,5 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 1,9%.

+ Vận tải hàng hóa ước doanh thu 11 thángđạt 8.993,9 tỷ đồng, tăng 13,01% so cùng kỳ. Ước sản lượng vận tải hàng hóa đạt 61.118,8 nghìn tấn vận chuyển và 4.471.721 nghìn tấn - km luân chuyển, so cùng kỳ tăng 5,98% về vận chuyển và 6,36% về luân chuyển. Trong đó: Đường bộ đạt 59.725 ngàn tấn vận chuyển, tăng 6,04% và 4.234.662 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 6,52%; đường sông đạt 1.393,8 ngàn tấn vận chuyển, tăng 3,57% và 237.059,2 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 3,59%.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 11 tháng/2019 ước đạt 6.052,93 tỷ đồng, tăng 14,14% so cùng kỳ.

4. Đầu tư phát triển

Dự ước tháng 11 năm 2019 vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 684,9 tỷ đồng, tăng 3,1% so tháng trước. Ước 11 tháng thực hiện 6.031,56 tỷ đồng, bằng 98% so cùng kỳ và đạt 90,2% so kế hoạch năm 2019. Tình hình thực hiện như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh quản lý: Ước tháng 11 năm 2019 thực hiện 406,17 tỷ đồng, bằng 98,9% so với tháng trước. Dự ước 11 tháng năm 2019 thực hiện 3.824,62 tỷ đồng, tăng 2,4% so cùng kỳ và đạt 91,3% so kế hoạch năm 2019.

Tình hình thực hiện các công trình trọng điểm như sau:

* Dự án chuyển tiếp:  Dự án đầu tư thí điểm trường học tiên tiến hiện đại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020. Được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương phát sinh thiết bị bàn, ghế lắp đặt máy vi tính. Dự ước khối lượng thực hiện tháng 11/2019 là 7,1 tỷ đồng, tính đến thời điểm hiện nay tất cả trang thiết bị theo hợp đồng công trình đã được lắp đặt và nghiệm thu; Dự án xây dựng mới Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 11/2019 là 29,2 tỷ đồng. Nhà thầu đang tiếp tục triển khai hoàn thiện tất cả các hạng mục xây tường hoàn thiện, tô tường, ốp lát, đi điện nước; Dự án Đường kết nối vào cảng Phước An (đoạn từ đường 319 đến nút giao cắt với đường cao tốc Bến Lức – Long Thành). Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 11/2019 là 4,8 tỷ đồng,

* Dự án sẽ được khởi công mới: Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Kế hoạch vốn năm 2019 là 18 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ, do trung ương quản lý thời gian khởi công dự án là ngày 25/12/2019. Hiện tại nhà thầu đã hoàn thành công tác rà phá bom mìn, đã nghiệm thu, thanh toán gói thầu và đang hoàn thiện hồ sơ quyết toán gói thầu; Dự án mở rộng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Hiện tại đã hoàn thành công tác bồi thường và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư. Lũy kế giải ngân từ đầu năm đến thời điểm báo cáo là 12,9 tỷ đồng, dự án dự kiến khởi công vào quý IV năm 2019.

*  Các dự án khác: Dự án xây dựng nâng cấp mở rộng đường Đỗ Văn Thi xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa: Dự ước tháng 11/2019 thực hiện 1,2 tỷ đồng; Dự án xây dựng hồ chứa nước Cầu Dầu – TP. Long Khánh: Dự ước thực hiện tháng 11/2019 là 1,7 tỷ đồng; Dự án xây dựng nâng cấp đường vào khu hành chính huyện Long Thành dự ước thực hiện tháng 11/2019 là 1,9 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước do cấp huyện quản lý

Dự ước tháng 11 năm 2019 thực hiện 234,5 tỷ đồng, tăng 13% so tháng trước. Dự ước 11 tháng năm 2019 thực hiện 1.784 tỷ đồng, đạt 86% so cùng kỳ và bằng 88 % so kế hoạch năm 2019. Tình hình thực hiện các công trình như sau: Dự án xây dựng trường Mầm Non Tân Tiến (TP.Biên Hòa) tháng 11/2019 ước thực hiện 1,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường Phú Xuân – Thanh Sơn – Phú An tháng 11/2019 ước thực hiện 4,9 tỷ đồng; Dự án kè gia cố bờ sông Đồng Nai đoạn từ khu dân cư dọc sông Rạch Cát phường Thống Nhất đén nhà máy xử lý nước thải số 2 phường Tam Hiệp TP.Biên Hòa tháng 11/2019 ước thực hiện 2,3 tỷ đồng; Dự án xây dựng trường THCS phía Bắc TT.Trảng Bom tháng 11/2019 ước thực hiện 3,3 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường Cây Khế - Bưng Môn. Huyện Long Thành tháng 11/2019 ước thực hiện 1,3 tỷ đồng.

- Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do cấp xã quản lý

Dự ước tháng 11 thực hiện 44,29 tỷ đồng, đạt 97% so tháng trước. Dự ước 11 tháng thực hiện 422,81 tỷ đồng, tăng 14% so cùng kỳ bằng 90% so kế hoạch năm 2018.

Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước địa phương quản lý tháng 11 năm 2019 còn gặp những khó khăn nguyên nhân là do tình hình giải ngân còn chậm bên cạnh đó trong công tác đền bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc, công tác giải ngân ở các công trình xây dựng cơ bản còn chậm. Nên ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thi công của các dự án.

        5. Tài chính – Ngân hàng

a. Tài chính

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục gặp khó khăn, thị trường bất động sản đang có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa vững chắc, điều đó đã ảnh hưởng khá nhiều đến công tác quản lý và thực hiện dự toán ngân sách của tỉnh. Thực hiện chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước năm 2019, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài chính, Cục Thuế, Kho bạc Nhà nước, Cục Hải quan phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các sở, ngành liên quan tăng cường phối hợp trong việc tổ chức thực hiện thu ngân sách với mục tiêu đảm bảo cân đối ngân sách của tỉnh; công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện, công tác quốc phòng an ninh tiếp tục được giữ vững đã tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh và thuận lợi trong công tác thu ngân sách

- Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2019 ước đạt 54.430,53 tỷ đồng, đạt 100,26% dự toán năm và tăng 22,4% cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa đạt 37.330 tỷ đồng, đạt 100,38% dự toán và tăng 31% cùng kỳ; Thu lĩnh vực xuất, nhập khẩu ước đạt 17.100 tỷ đồng (chưa tính hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu) , bằng 99,3% cùng kỳ và đạt 100% so dự toán.

-   Tổng chi ngân sách địa phương năm 2019 ước đạt 20.522,66 tỷ đồng, đạt 99,5% dự toán và tăng 10,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 6.704,92 tỷ đồng, đạt 96,07% dự toán và tăng 5,5% so cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 12.313,79 tỷ đồng, đạt 101,41% dự toán và tăng 1,26% so với cùng kỳ.

b. Hoạt động ngân hàng

Dự ước đến ngày 31/12/2019, tổng vốn huy động trên địa bàn ước đạt 193.863 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:

Tiền gửi bằng đồng Việt Nam đạt 182.442 tỷ đồng, tăng 15,43% so đầu năm; Tiền gửi bằng ngoại tệ đạt 11.421 tỷ đồng, giảm 6,02%/năm so đầu năm. Do lãi suất huy động USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức nên tiền gửi ngoại tệ có chiều hướng giảm so với đầu năm.

Hiện, lãi suất huy động bằng VND phổ biến ở mức 0,5-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,6-7,3%/năm.

Đến 31/12/2019 tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn ước đạt 206.593 tỷ đồng, tăng 16,45% so với cùng kỳ năm 2018.

+ Phân theo thời hạn: Dư nợ ngắn hạn đạt 112.328 tỷ đồng, tăng 14,30% so đầu năm. Dư nợ trung, dài hạn đạt 99.472 tỷ đồng, tăng 18,96% so đầu năm.

+ Phân theo loại tiền: Dư nợ bằng đồng Việt Nam đạt 170.614 tỷ đồng, tăng 19,18% so với đầu năm; dư nợ bằng ngoại tệ đạt 35.979 tỷ đồng, tăng 5,04% so đầu năm.

Hiện mặt bằng lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 2,8-6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 2,8-4,7%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5-6,0%/năm.

6. Một số tình hình xã hội

a. Văn hóa thông tin

Trong tháng 11 toàn ngành văn hóa thông tin tập trung tuyên truyền các sự kiện chính trị trong tháng như: Tuyên truyền Lễ tổng kết các hoạt động hè tỉnh Đồng Nai năm 2019; Kỳ họp thứ 12 HĐND tỉnh Đồng Nai; Phát hành 250 đĩa CD gửi cơ sở tuyên truyền Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; Biểu diễn tuyên truyền lưu động chủ đề kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại huyện Tân Phú, Định Quán, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc phục vụ các đối tượng học sinh, sinh viên, người dân trong tỉnh. Tổ chức văn nghệ chủ đề kỷ niệm 65 năm Ngày giải phóng Thủ đô; Tham gia Liên hoan Ban nhạc và Nhóm ca khu vực Đông Nam bộ tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, lần thứ I năm 2019…

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật

Thực hiện 13 buổi biểu diễn nghệ thuật tham gia Liên hoan Quốc tế Sân khấu thử nghiệm lần thứ IV, phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhân dân vùng sâu vùng xa huyện Xuân Lộc. Tiếp tục luyện tập vở diễn “ Tiếng gọi”; 02 Trích đoạn Cải lương “ Ngàn thu gương Nữ liệt” và “ Công lý và niềm tin”.

Đoàn Nghệ thuật đương đại: Thực hiện 9 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ công nhân khu công nghiệp huyện Trảng Bom.

05 đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim và các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, phục vụ các xã nông thôn mới và công nhân tại các khu công nghiệp trong tỉnh. Trong tháng, các đội chiếu phim đã thực hiện 192 buổi chiếu phim lưu động, thu hút 42.330 lượt xem.

Công tác bảo tồn, bảo tàng: Thực hiện phim “Nghệ thuật diễn xướng Bóng rỗi Địa nàng ở Đồng Nai”. Biên soạn các đề tài văn hóa phi vật thể: “Kiểm kê di sản văn hóa truyền thống điển hình các dân tộc thiểu số ở Đồng Nai”; “Ẩm thực truyền thống của các dân tộc bản địa ở Đồng Nai”; “Lễ hội kỳ yên đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh”.

Thường xuyên mở cửa phòng triển lãm, phòng trưng bày tại Bảo tàng Đồng Nai, phục vụ các đoàn khách tham quan, các đoàn học sinh, sinh viên đến nghiên cứu và học tập.

Công tác Xây dựng nếp sống văn hóa và Gia đình: Xây dựng Kế hoạch phối hợp tổ chức giao lưu nhân kỷ niệm Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối phụ nữ và trẻ em (25/11); Chuẩn bị các nội dung tổ chức lễ công bố tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; tổng kết 10 năm chương trình mực tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; Tổ chức Hội thi tuyên truyền viên giỏi Đề án “Phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020”.

b. Thể dục thể thao

Tham gia 03 giải quốc tế đạt 01HCV, 04HCB gồm: Giải vô địch Kata Judo Châu Á tại Thái Lan; giải Cầu lông quốc tế 2019 tại Hungary; Giải Cầu lông quốc tế tại Na Uy.

Tham gia 05 giải thể thao quốc gia (đạt 06HCV; 08HCB; 10HCĐ); 01 Giải cụm, mở rộng (đạt 02HCV, 03HCB, 03HCĐ).

Tổ chức các giải: Giải bơi học sinh và cứu đuối nước tỉnh Đồng Nai năm 2019; Thi đấu kỳ đài Cờ tướng vào các ngày Chủ nhật trong tháng.

c. Giáo dục

Tổ chức các đoàn cán bộ giáo viên các trường TH, THCS, THPT tham gia tập huấn triển khai chường trình giáo dục phổ thông mới gồm 325 giáo viên Tiểu học, 179 giáo viên THCS và 74 giáo viên THPT do Bộ GDĐT tổ chức tại TP Vũng Tàu.

Kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ năm học, quy chế chuyên môn tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra công nhận trường mầm non đề nghị đạt chuẩn quốc gia. Tiếp tục cập nhật số liệu phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi trên hệ thống thông tin điện tử quản lý phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Tổ chức lớp tập huấn chuyên môn cho cán bộ quản lý - giáo viên mầm non ngoài công lập. Theo dõi, tổng hợp kết quả công tác phát triển trường mầm non tư thục năm 2019.

Tổ chức thi, chấm thi chọn đội tuyển học sinh giỏi 12 dự thi quốc gia; ra quyết định thành lập đội tuyển; đăng ký dự thi học sinh giỏi quốc gia với Bộ GDĐT. Quyết định đề nghị giáo viên ra đề thi đề xuất học sinh giỏi lớp 12.

 d. Y tế

Theo báo cáo của ngành Y tế, trong tháng 11 năm 2019 dịch bệnh xảy ra trong toàn tỉnh như sau:  

- Sốt xuất huyết: Trong tháng 11 số trường hợp mắc Sốt xuất huyết ghi nhận 2.032 trường hợp, giảm 34,18% so với tháng trước (2.797 trường hợp), tăng hơn 37,86% so với tháng cùng kỳ năm 2018. Ghi nhận 01 trường hợp mắc bệnh tử vong (TP. Biên Hòa). So với tháng trước, số ca mắc giảm nhiều ở thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom.

Số trường hợp mắc cộng dồn đến tháng 11 là 17.308 trường hợp; tăng 1,99 lần so với cùng kỳ năm 2018 (5.793 trường hợp). Ghi nhận 03 trường hợp tử vong, tăng 01 trường hợp so với cùng kỳ.

Hoạt động xử lý ổ dịch: Tổng số ổ dịch sốt xuất huyết Dengue được xử lý và phát hiện trong tháng 11 là 223/231 ổ dịch đạt 97%. Số ổ dịch phát hiện giảm 17,5% so với tháng 10. Cộng dồn đến tháng 11 xử lý 2.631 ổ dịch/2.731 ổ dịch phát hiện, đạt 96,33%.

- Sởi: Trong tháng 11 ghi nhận 78 trường hợp mắc Sởi, tăng 56% so với tháng trước và giảm 65% so với tháng cùng kỳ năm 2018. Số trường hợp mắc tăng ở huyện Trảng Bom, thành phố Biên Hòa.

Tổng số trường hợp mắc cộng dồn đến tháng 11/2019 là 1.756 trường hợp, tăng 3,58 lần so với cùng kỳ 2018 (383 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Sốt rét: Trong tháng 11 không ghi nhận trường hợp mắc bệnh Sốt rét. Số trường hợp mắc cộng dồn đến tháng 11/2019 là 09 trường hợp; giảm 82,7% so với cùng kỳ năm 2018 (52 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Tay chân miệng (TCM): Số trường hợp mắc TCM trong tháng 11 ghi nhận là 1.774, giảm 26,29% so với tháng trước (2.406 trường hợp) và giảm 44,9% so với tháng cùng kỳ năm 2018 (3.220 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp tử vong. Số trường hợp mắc TCM giảm ở 10/11 huyện/TP (trừ huyện Định Quán), trong đó giảm nhiều ở thành phố Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch.

Số trường hợp mắc TCM cộng dồn tháng 11/2019 là 8.542 trường hợp, giảm 17,94% so với cùng kỳ năm 2018 (10.410 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp tử vong, giảm 01 trường hợp so với cùng kỳ.

Hoạt động xử lý ổ dịch: Trong tháng phát hiện 231 ổ dịch và xử lý 221 ổ dịch, số ổ dịch phát hiện giảm 44,6% so với tháng trước (417 ổ dịch). Cộng dồn từ đầu năm đến tháng 11 ghi nhận 1.238 ổ dịch được xử lý/1.277 ổ dịch được phát hiện, đạt 96,9%.

Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm: Duy trì thực hiện tốt công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức như tập huấn kiến thức, phát thanh, truyền hình, báo, băng rôn, áp phích...cho các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm, góp phần ngăn ngừa ngộc độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm tới người sử dụng.

Tiếp tục thực hiện tốt công tác thanh kiểm tra liên ngành, xử lý nghiêm những cơ sở vi phạm các điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng 11 thực hiện công tác kiểm tra, giám sát (02 đoàn kiểm tra liên ngành) và tổ chức 1.259 lượt thanh tra, kiểm tra cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm, trong đó: 1.070 cơ sở đạt (chiếm 84,99%), số cơ sở vi phạm là 189, trong đó phạt tiền 04 cơ sở là 41.875.000 đồng và nhắc nhở 185 cơ sở. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm với 07 người mắc, không ghi nhận trường hợp mắc ngộ độc tử vong.

Tính đến tháng 11/2019, toàn tỉnh xảy ra 07 vụ ngộ độc thực phẩm với 98 người mắc và không ghi nhận trường hợp mắc ngộ độc tử vong.

e. Đào tạo nghề: Tính từ đầu năm đến nay tuyển mới 74.117 người, đạt 97,14% kế hoạch năm, trong đó: Cao đẳng: 7.697 người, Trung cấp: 10.441 người, Sơ cấp và đào tạo thường xuyên: 55.979 người (đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 3.099 người).

 - Từ đầu năm đến nay có 64.246 người tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề, đạt 96,90% kế hoạch năm, trong đó: Cao đẳng 4.671 người, trung cấp 5.713 người, Sơ cấp và đào tạo thường xuyên 53.862 người (đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn 2.793 người).

f. Giải quyết việc làm: Lũy kế từ đầu năm giải quyết 85.528 lượt người, đạt 106,9% kế hoạch năm, tăng 0,3% so với cùng kỳ.

Trong tháng 11, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã cấp 121 giấy phép lao động theo quy định (cấp mới 80, cấp lại 41) và xác nhận 02 trường hợp được miễn cấp giấy phép lao động theo quy định.

Trong tháng có 3.850 người hồ sơ hưởng BHTN, ban hành quyết định cho hưởng trợ cấp thất nghiệp 4.089 người. Tư vấn và giới thiệu việc làm cho số lao động thất nghiệp 4.125 lượt người, hỗ trợ học nghề cho 193 người.

g. Công tác giảm nghèo: Tính đến cuối tháng 10 năm 2019, toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 3.076 hộ. Trong đó số hộ nghèo vay 592 hộ với số tiền 22.275 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 1.744 hộ với số tiền 69.537 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 740 hộ với số tiền 29.286 triệu đồng.

Ước tháng 11 năm 2019, toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 265 hộ với số tiền 10.557 triệu đồng. Trong đó số hộ nghèo vay 37 hộ với số tiền 1.435 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 136 hộ với số tiền 5.490 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 92 hộ với số tiền 3.632 triệu đồng.

 ​CỤC THỐNG KÊ ĐỒNG NAI

INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​