Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ, kịp thời cho cơ quan Thống kê là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp
Tích cực tham gia Điều tra Doanh nghiệp năm 2020 là góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Từ năm 2020, Doanh nghiệp cung cấp thông tin Thống kê trên trang thông tin điện tử điều tra doanh nghiệp tại địa chỉ http://thongkedoanhnghiep.gso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2019

Năm 2019 mặc dù gặp không ít khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh trên đàn gia súc gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó kinh tế thế giới biến động cũng bị tác động ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp...Tuy nhiên với sự lãnh đạo tích cực, kịp thời, hiệu qủa của tỉnh ủy, UBND tỉnh, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, địa phương và doanh nghiệp nên kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2019 đạt được những kết quả tích cực. Tăng trưởng kinh  tế trên địa bàn tỉnh Đồng nai tiếp tục đạt mức tăng trưởng khá so cùng kỳ.Các hoạt động văn hóa, xã hội và chính sách an sinh xã hội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện và đạt được kết quả quan trọng, đời sống dân cư tiếp tục được quan tâm, cải thiện và nâng cao.

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tăng trưởng và đóng góp chung: Tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh 2010) đạt 204.079 tỷ đồng, tăng 9,05% so với cùng kỳ, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong việc chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành ngay từ những tháng đầu năm và cả năm 2019.

Trong mức tăng 9,05%, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,08%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Năm 2019 ngành nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh kéo dài, đặc biệt dịch tả lợn Châu Phi lây trên diện rộng, đến nay nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa tái đàn đã làm ảnh hưởng đến mức đóng góp vào GRDP của khu vực này.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,15%, đóng góp 6,87 điểm phần trăm; điểm nổi bật của khu vực này là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức cao 12,15%, là ngành chiếm tỷ trọng cao trong khu vực này (chiếm 88,22%); ngành sản xuất phân phố điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 12,88%; khai khoáng tăng 13,45%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải tăng 7,33% đã đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của khu vực này.

Khu vực dịch vụ tăng 7,09%, đóng góp 1,7 điểm phần trăm, trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Vận tải kho bãi tăng 10,16%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,94%; Hoạt động tài chính ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,77%; Giáo dục đào tạo tăng 8,76%; Hoạt động y tế tăng 7,99%; Hoạt động hỗ trợ hành chính tăng 9,04%... Thuế sản phẩm tăng 2,97%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm.

Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,12%; khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 61%; khu vực dịch vụ chiếm 22,16% và Thuế sản phẩm trừ trợ cấp chiếm 7,73%.

GRDP bình quân đầu người năm 2019 (theo giá hiện hành) dự ước đạt 113,7 triệu đồng, tăng 9,69% so năm trước. GRDP bình quân đầu người năm 2019 theo USD dự ước đạt 4.912,2 USD, tăng 7,97% so năm trước.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2019 tăng 8,8% so cùng kỳ. Trong đó: Khai khoáng tăng 5,09%; nhóm ngành chế biến, chế tạo tăng 8,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước,tăng 12,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 7,61%.

Năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng khá so cùng kỳ, là do kết quả đóng góp của các  ngành công nghiệp chủ lực sản xuất ổn định,tăng trưởng cao đã góp phần làm tăng chỉ số sản xuất công nghiệp. Trong các ngành công nghiệp cấp II, năm 2019 hầu hết các ngành đều có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng so cùng kỳ, cụ thể ở một số ngành công nghiệp chủ lực như sau:

Chỉ số sản xuất ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 14,93% so cùng kỳ. Đây là ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao về giá trị sản xuất trong toàn ngành công nghiệp. Nguyên nhân tăng cao là do thị trường xuất khẩu ổn định từ khách hàng Mỹ và liên minh Châu Âu nên chỉ số sản xuất tăng nhanh.Bên cạnh đó, lợi thế Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ đầu năm 2019 đang giúp ngành giày da mở rộng thị trường châu Mỹ; trong đó, có những thị trường tiềm năng như: Mexico, Canada. Một số doanh nghiệp sản xuất giày dép có mức tăng 8,5 - 19% như: Công ty Dona Pacific, công ty Chang shin, công ty Pousung, công ty Taekwang vina, công ty giày Việt Vinh.

Chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất trang phục tăng 10,11% so cùng kỳ;

Chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất thiết bị điện tăng 15,64% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 10,10% so cùng kỳ. Mặc dù ngành này những tháng đầu năm gặp khó khăn về giá nguyên liệu đầu vào luôn biến động tăng cao và tình trạng thiếu lao động lành nghề  nên sản xuất của ngành này tăng không cao. Tuy nhiên các tháng gần đây ngành sản xuất chế biến gỗ có xu hướng ổn định do có hợp đồng tiêu thụ, nguồn nguyên liệu bớt khan hiếm do đó tình hình sản xuất có xu hướng tăng trưởng rõ rệt: Công Ty TNHH Johson Wood; công ty ty Shingmark Vina; Công Ty TNHH Hòa Bình có mức tăng 6,7->15% so cùng kỳ.

Ngành Dệt hiện là ngành chủ lực có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của tỉnh. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này rất quan tâm đến việc tận dụng các ưu đãi từ hiệp định thương mại tự do (FTA) để tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhờ có thị trường xuất khẩu ổn định nên sản xuất tăng trưởng. Chỉ số sản xuất ngành này tăng 11,76% so cùng kỳ;

Ngoài ra, các ngành có quy mô sản xuất lớn vẫn duy trì mức tăng trưởng khá ổn định như: Ngành sản xuất thuốc lá (+9,8%); sản xuất nước uống (+7,91%), sản xuất xe có động cơ (+5,23%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (+10,05%)... do có thị trường tiêu thụ ổn định.

- Chỉ số sản phẩm công nghiệp  năm 2019 các sản phẩm có chỉ số tăng, giảm so cùng kỳ như: Máy giặt (+38,24%); cà phê các loại (+23,37%); Thuốc bảo vệ thực vật (+10,27%); Quần áo các loại (+12,62%);Vải các loại (+13,20%); Thuốc lá sợi (+9,93%); giày dép các loại (+13,07%); Sợi các loại (+10,79%); Bột ngọt (+8,31%); bao bì các loại (-4,25%).v.v….

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp và thu hút đầu tư

Đồng Nai là tỉnh công nghiệp phát triển có khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức đầu tư lớn. Năm 2019 các chính sách về thu hút đầu tư của địa phương, môi trường đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính trên địa bàn không ngừng được cải thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch và phù hợp với xu hướng phát triển. Tạo điều kiện các Doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và các dự án mới được triển khai thực hiện.

Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) dự ước đến ngày 31/12/2019 đạt 1.450 triệu USD, đạt 145% so kế hoạch năm, bằng 75,7% so cùng kỳ.

- Tổng vốn đầu tư trong nước năm 2019 đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn Thu hút đầu tư trong nước dự ước là 34.000 tỷ đồng, đạt 340% kế hoạch năm, tăng 23,6% so cùng kỳ

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ước đạt 3.850 doanh nghiệp, tăng 9,4% so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký ước đạt 34.000 tỷ đồng.

4. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (giá so sánh 2010) năm 2019 đạt 41.799,43 tỷ đồng, tăng 2,85% so cùng kỳ. Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 37.416 tỷ đồng, tăng 2,72% (trồng trọt tăng 2,08%; chăn nuôi tăng 3,11%; dịch vụ tăng 4,03%); Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 2.185,8 tỷ đồng, tăng 2,64%; Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 2.197,57 tỷ đồng, tăng 5,42% so cùng kỳ.

a. Nông nghiệp:

Sản xuất cây hàng năm

Ước tính tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2019 là 155.450 ha, giảm 3.190 ha (- 2,01%) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích cây lương thực đạt 98.492 ha, chiếm 63,36% so với tổng diện tích, giảm 4.854 ha (-4,7%); Cây củ có bột đạt 16.385 ha, chiếm 10,54% so với tổng diện tích, giảm 110 ha (-0,67%); Cây rau, đậu đạt 20.360 ha, chiếm 13,1% so với tổng diện tích, tăng 898 ha (+4,61%); Cây hàng năm khác đạt 8.638 ha, chiếm 5,56% so với tổng diện tích, tăng 642 ha (+8,02%) so cùng kỳ.

Sơ bộ dự ước năng suất một số cây trồng năm 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Năng suất cây lúa đạt 56,23 tạ/ha, tăng 1,81 tạ/ha (+3,33%); Bắp đạt 75 ta/ha, giảm 0,67 tạ/ha (-0,88%); Rau các loại: 157,03 tạ/ha, giảm 8,46 tạ/ha (-5,11%);  Đậu các loại đạt 13,33 tạ/ha, giảm 0,03 ta/ha (-0,2%).

Căn cứ trên diện tích, năng suất từng loại cây trồng, sơ bộ dự ước sản lượng thu hoạch cây trồng năm 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng lúa đạt 330.348 tấn, tăng 5.022 tấn (+1,54%); Bắp đạt 298.030 tấn, giảm 31.358 tấn (-9,58%); Rau các loại đạt 255.190 tấn, tăng 9.289 tấn (+3,78%); Đậu các loại đạt 5.477 tấn, giảm 671 tấn (-10,92%) so cùng kỳ.Năng suất và sản lượng một số cây trồng giảm do một số diện tích trồng trên cao không đủ nước tưới hoặc gặp mưa lớn gây thiệt hại cho cây trồng.

- Sản xuất cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 170.502,21 ha, giảm 1,51% (-2.622 ha) so cùng kỳ. Trong đó cây ăn quả đạt 63.733,06 ha, tăng 9,59% (+5.577,8 ha), cây công nghiệp lâu năm đạt 106.769,16 ha, giảm 7,13% (-8.199 ha).

Dự ước năng suất một số cây trồng năm 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Năng suất Xoài đạt 90,18 tạ/ha, tăng 7,86%; Chuối đạt 136,46 tạ/ha, giảm 5,53%; Sầu riêng đạt 89,89 tạ/ha giảm 9,29%; Mít đạt 164,97 tạ/ha giảm 1,2%; Cam đạt 95,24 tạ/ha giảm 1,75%; Quýt đạt 157,88 tạ/ha giảm 0,03%; Bưởi đạt 106,57 tạ/ha, tăng 0,98%; Chôm chôm đạt 159,36 tạ/ha tăng 3,9%; Điều đạt 13,39 tạ/ha tăng 9,15%; Hồ tiêu đạt 23,77 tạ/ha, tăng 9,99%; Cà phê đạt 23,83 tạ/ha, tăng 2,94%; Cao su đạt 15,26 tạ/ha, giảm 0,33% so với cùng kỳ.

Sản lượng cây lâu năm tăng khá ở một số cây đặc thù và chiếm ưu thế trên địa bàn đó là: Sản lượng xoài tăng 2,56%; Chuối tăng 8,99%; Sầu riêng tăng 4,75%; măng cụt tăng 16,46%; Mít tăng 16,46%; Bưởi tăng 21,98%; Cam tăng 12,45%, Chôm chôm tăng 1,27%; Điều tăng 1,2%, Cao su tăng 2,43%; Tiêu tăng 0,7%.

- Chăn nuôi

+ Số lượng đàn: Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 12 năm 2019 là 2.179.956 con, giảm 361.089 con (-14,21%) so cùng kỳ. Trong đó trâu đạt 3.743 con giảm 0,9% ( giảm 34 con), Bò đạt 86.529 con tăng 0,56% (478 con); Heo đạt 2.089.684 con, giảm 14,75% tương đương giảm 361.533 con.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 12/2019 là 27.751,79 ngàn con, tăng 20,64% so cùng kỳ. Trong đó gà đạt 25.649,66 ngàn con, tăng 20,94% và chiếm 92,43% tổng đàn gia cầm. Đàn gia cầm năm 2019 tăng mạnh do chăn nuôi heo bị thiệt hại nặng bởi dịch tả lợn Châu phi nên giá thịt gà tiêu thụ thuận lợi, người dân đầu tư nhiều hơn.

+ Sản lượng sản phẩm:  Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh năm 2019 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước 226 tấn, tăng 1tấn (+0,4%); thịt bò dự ước 4.253 tấn, tăng 149 tấn (+3,64%); thịt heo 425.042 tấn, giảm 20.378 tấn (-4,57%) so cùng kỳ; thịt gia cầm 115.641 tấn, tăng 15.242 tấn (+15,18%) so cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm đạt 1.004.608 ngàn quả, tăng 259.937 ngàn quả (+34,91%) so cùng kỳ.

- Tình hình dịch tả heo Châu Phi : Hiện nay vẫn còn tồn tại âm ỉ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Tính từ khi có dịch đến ngày 11/12, toàn tỉnh có 5.359 hộ chăn nuôi thuộc 137 xã, phường của 11 huyện, thành phố xuất hiện dịch với tổng số heo bị chết và tiêu hủy hơn 447 ngàn con. Với việc tập trung triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trong thời gian qua, đến nay mức độ lây lan của Dịch tả heo Châu Phi đã có dấu hiệu chậm lại. Hiện nay, 118/137 xã/phường đã qua 30 ngày không tái phát dịch bệnh (đã lập thủ tục công bố hết dịch 49 xã). Số lượng dịch bệnh và tiêu hủy tập trung chủ yếu tại các huyện: Thống Nhất (chiếm 22%), Trảng Bom (chiếm 18,7%), Vĩnh Cửu (chiếm 17%) và Long Thành (chiếm 17%).

b. Hoạt động Lâm nghiệp

- Công tác trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng: ước năm 2019 diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 3.938,73 ha, giảm 7,59% so cùng kỳ. Diện tích rừng trồng mới chủ yếu là diện tích rừng sản xuất do các đơn vị chủ rừng sau khi khai thác đã tổ chức trồng lại ngay. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán dự ước năm 2019 đạt 190,5 ha, giảm 32,64% so cùng kỳ, nguyên nhân đạt thấp là do phần diện tích đã khép kín.

- Khai thác gỗ và lâm sản: ước năm 2019 đạt 246.619 m3, tăng 3,15% so cùng kỳ, Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy đã đến thời kỳ khai thác; Sản lượng củi khai thác dự ước đạt 965 ste, tăng 0,31% so cùng kỳ.

- Công tác PCCCR và quản lý bảo vệ rừng: năm 2019 xảy ra 2 vụ cháy gây thiệt hại 0,82 ha rừng trồng keo.

c. Lĩnh vực Thủy sản

- Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản không sử dụng lồng bè, bể bồn hiện có là 8.785,53 ha, tăng 0,99% so cùng kỳ (+86,25 ha). Trong đó diện tích nuôi cá là 6.710,29 ha, tăng 3,23% (+209,9 ha); diện tích nuôi tôm là 2.037,58 ha, giảm 5,77% (-124,72 ha).

Dự ước tổng sản lượng thủy sản năm 2019 sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác toàn tỉnh đạt 64.180,88 tấn, tăng 3,48% (+2.159,3 tấn) so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 56.021 tấn, tăng  3,21%; tôm đạt 7.137 tấn, tăng 0,74%, thủy sản khác đạt 1.023 tấn, tăng 55,19% so với cùng kỳ.

5. Dịch vụ

Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2019 có mức tăng trưởng khá với sức mua tiêu dùng tăng cao.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 173.820,15 tỷ đồng, tăng 11,84% so cùng kỳ và đạt 97,2% so kế hoạch năm. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tăng 8,91%. Trong đó: Doanh thu bán lẻ ngành thương nghiệp ước đạt 131.203,56 tỷ đồng, chiếm 75,48% tổng mức và tăng 12,14% so cùng kỳ; ngành khách sạn nhà hàng thực hiện 16.220,66 tỷ đồng, tăng 11,64%; ngành du lịch lữ hành thực hiện 100,25 tỷ đồng, tăng 8,33%; ngành dịch vụ thực hiện 26.295,68 tỷ đồng, tăng 10,49%.

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2019 ước đạt 131.203,56 tỷ đồng, tăng 12,14% so cùng kỳ. Một số nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn và tăng khá so cùng kỳ như: Nhóm lương thực, thực phẩm đạt 31.495,74 tỷ đồng (+15,99%); Nhóm gỗ và vật liệu xây dựng đạt 18.568,7 tỷ đồng (+12,62%); Nhóm Xăng dầu các loại đạt 16.800,5 tỷ đồng (+11,48%); Nhóm Ô tô con đạt 8.085 tỷ đồng (+11,7%); Nhóm hàng may mặc đạt 5.554,66 tỷ đồng (+11,5%); Nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 14.896,17 tỷ đồng (+9,86%); Nhóm phương tiện đi lại đạt 14.195,5 tỷ đồng (+8,44%); Nhóm vật phẩm văn hóa giáo dục đạt 1.279,47 tỷ đồng (+7,47%); Nhóm nhiên liệu khác đạt 1.802,3 tỷ đồng (+11,89%); Nhóm vàng, bạc, đá quý, kim loại quý đạt 2.785,4 tỷ đồng (+9,31%); Nhóm hàng hóa khác đạt 11.595,7 tỷ đồng (+12,23%); Doanh thu sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy đạt 4.144,47 tỷ đồng (+10,97%).

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2019 ước đạt 16.220,66 tỷ đồng, tăng 11,64% so cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 324,83 tỷ đồng, tăng 5,01%; Lượt khách phục vụ đạt 3.342.734 lượt khách, so cùng kỳ năm trước tăng 4,24%; Ngày khách phục vụ đạt 2.467.105 ngày, so cùng kỳ tăng 4,93%; Dịch vụ ăn uống năm 2019 ước đạt 15.895,83 tỷ đồng, tăng 11,79%.

- Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch năm 2019 ước đạt 100,25 tỷ đồng, tăng 8,33% so cùng kỳ. Lượt khách du lịch theo tour 167.644 lượt, tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước do các khu Du lịch Bửu Long; Khu Du lịch Đảo Ó Đồng Trường; Khu Du Lịch Suối Mơ; Khu Du Lịch Vườn Xoài; Khu Du Lịch Thác Giang Điền....., chỉnh trang và mở thêm một số hoạt động ngoài trời đã thu hút được khách trong và ngoài tỉnh; Đặc biệt, đầu tháng 9/2019 trên địa bàn tỉnh vừa khai trương tuyến du lịch đường sông Đồng Nai giai đoạn 1 thu hút lượng khách đến tham quan trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, việc đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác truyền thông, quảng bá đã góp phần thúc đẩy ngành dịch vụ du lịch, vui chơi , giải trí phát triển. 

- Doanh thu hoạt động dịch vụ khác: Dự ước năm 2019 đạt 26.295,68 tỷ đồng, tăng 10,49% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh doanh bất động sản ước đạt 7.748,05 tỷ đồng (+7,15%) Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 3.071,16 tỷ đồng (+10,7%); Giáo dục và đào tạo ước đạt 1.990,17 tỷ đồng (+10,57%); Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.911,8 tỷ đồng (+15,67%); Nghệ thuật, vui chơi giải trí dự tính đạt 6.217,48 tỷ đồng (+14,72% )…

6. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

* Xuất khẩu: Ước kim ngạch xuất khẩu năm 2019 trên địa bàn đạt 19.703,51 triệu USD, tăng 7,13% so cùng kỳ (Mục tiêu đề ra tăng 9-11%). Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 502,14 triệu USD, tăng 3,39%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.183,88 triệu USD, tăng 6,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16.017,49 triệu USD, tăng 7,36% so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản… Nguyên nhân kim ngạch xuất khẩu năm nay tăng thấp do ảnh hưởng của thị trường thế giới nên giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản giảm mạnh, mặt khác thị trường xuất khẩu một số nước bị thu hẹp cũng ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu.

* Nhập khẩu: Dự ước cả năm đạt 16.170,24 triệu USD, tăng 0,15% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 299,67 triệu USD, tăng 0,07%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.845,38 triệu USD, tăng 0,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13.025,19 triệu USD, tăng 0,21% so cùng kỳ. Nhập khẩu thấp do giá nguyên vật liệu cũng như một số mặt hàng nông sản giảm sút, mặt khác do xuất khẩu tăng chậm dẫn đến nhập khẩu cũng ảnh hưởng.

7. Giá cả thị trường

       * Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2019 so với tháng 11/2019.

       Tháng 12 là tháng cuối năm và có nhiều ngày nghỉ lễ như ngày lễ Noel và tết Dương lịch; năm nay các sản phẩm may mặc như quần áo, giày dép phong phú và đa dạng, giá cả các mặt hàng này tương đối ổn định không có nhiều biến động; tuy nhiên mặt hàng thịt heo tiếp tục tăng cao trong tháng. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với tháng trước tăng 1,04% (khu vực thành thị tăng 0,97%; nông thôn tăng 1,1%). Đây là tháng có chỉ số giá tăng cao nhất từ đầu năm đến nay.

       * Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2019 so với tháng 12/2018 tăng 5,01%. Có 11/11 nhóm hàng hoá có chỉ số tăng, trong đó: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,75%, trong đó thực phẩm tăng 9,27%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,38%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,77%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 7,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,25%; giao thông tăng 3,76%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 4,97%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,27%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,83%.

       * Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2019 so cùng kỳ tăng 2,93%. Có 5/11 nhóm hàng có chỉ số tăng cao hơn bình quân chung. Đó là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+4,21%), trong đó thực phẩm tăng 5,76%; may mặc, mũ nón, giày dép (+3,13%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD (+5,32%); Thuốc và dịch vụ y tế (+3,88%); giáo dục (+3,09%)…

       * Giá vàng: Trong tháng giá vàng bình quân tăng 0,81% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 18,05%; bình quân quý IV tăng 19,11% và so bình quân cùng kỳ tăng 8,83%.

       * Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này tăng 0,2% so tháng trước;  so tháng 12 năm trước giảm 0,06%; bình quân quý IV giảm 0,41% và so bình quân cùng kỳ tăng 0,73%.

8. Giao thông vận tải

Tổng doanh thu hoạt động vận tải năm 2019 ước đạt 18.727 tỷ đồng, tăng 13,09% so cùng kỳ.

Vận tải hành khách dự ước doanh thu đạt 2.314,5 tỷ đồng, tăng 12,51%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 68.716,7 nghìn HK, tăng 6,25%; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.709.810 nghìn HK.km, tăng 6,34% so cùng kỳ. Trong đó: Đường bộ đạt 67.504,4 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 6,33% và 3.709.104 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 6,34%; đường sông đạt 1.212,3 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 2,18% và 706,7 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 1,97%.

Vận tải hàng hóa ước doanh thu ước đạt 9.827,45 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ. Ước sản lượng vận tải hàng hóa đạt 66.750,9 nghìn tấn vận chuyển và 4.882.848 nghìn tấn - km luân chuyển, so cùng kỳ tăng 6,05% về vận chuyển và 6,42% về luân chuyển.

Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2019 ước đạt 6.585 tỷ đồng, tăng 13,29% so với cùng kỳ.

9. Dân số, lao động

Ước tính dân số trung bình năm 2019 là 3.113.713 người. Trong đó: Nam là 1.562.164 người, Nữ là: 1.551.549 người;  thành thị: 1.024.837 người, nông thôn là 2.088.876 người.

Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế dự ước năm 2019 là 1.880,5 nghìn người tăng 1,9% so cùng kỳ.

10. Giáo dục đào tạo

- Tình hình trường, lớp: Năm học 2019 – 2020 toàn tỉnh có 891 trường mầm non và phổ thông, tăng thêm 03 trường so với năm học 2018 – 2019, trong đó: tăng 02 trường tiểu học và 1 trường THCS. Sau khi sắp xếp, hợp nhất, sát nhập các trường mầm non, tiểu học, THCS, nâng cấp trường phổ thông thành nhiều cấp học, số lượng trường các cấp học như sau: 345 trường mầm non, mẫu giáo, 304 trường tiểu học, 177 trường có cấp học THCS, 75 trường có cấp học THPT.

- Tình hình giáo viên: Đội ngũ giáo viên các cấp năm học 2019 - 2020 toàn ngành là: 36.935 chỉ tiêu trong đó có 32.837 biên chế, 4.098 hợp đồng NĐ 68. So với năm 2018-2019 giảm 222 biên chế, 83 hợp đồng NĐ68.

- Tình hình học sinh: Tổng số học sinh mầm non và phổ thông là 708.500 học sinh, tăng 16.000 học sinh phổ thông, tỷ lệ tăng 3%, trong đó, chủ yếu tăng học sinh THCS (tăng khoảng 6.000 học sinh, tỷ lệ 3%) và THPT (tăng khoảng 6.000 học sinh, tỷ lệ tăng 7%) so với năm học 2018 – 2019.

11. Y tế

Ước năm 2019, tổng số lượt người khám chữa bệnh là 6.773.025 lượt, số lượt điều trị nội trú: 2.180.289 người. Công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì thường xuyên tại các địa bàn trong tỉnh. Tính đến 7/12/2019 số cháu tiêm đầy đủ 6 loại vaccin có 41.663 cháu, đạt 80,94% so kế hoạch và giảm 9.638 cháu (-18,78%) so cùng kỳ. Ngành y tế đã chủ động triển khai công tác phòng chống dịch, duy trì công tác giám sát dịch tễ thường xuyên, xử lý dịch sớm giúp hạn chế số ca mắc và số tử vong; Tính từ đầu năm đến nay bệnh lao có 2.983 người mắc bệnh lao, giảm 59 người (-1,93%) so cùng kỳ. Số trường hợp mắc bệnh sốt rét cộng dồn đến tháng 12/2019 là 10 trường hợp; giảm 81,82% so với cùng kỳ năm 2018 (55 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong; Tính đến tháng 12 năm 2019, toàn tỉnh có 4.600 trường hợp mắc HIV/AIDS, duy trì tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư trên địa bàn toàn tỉnh được khống chế <0,3%;). Lũy kế đến tháng 12 có 19.511 trường hợp mắc; tăng 1,71 lần so với cùng kỳ (7.190 trường hợp). Ghi nhận 03 trường hợp mắc bệnh tử vong…

12. Văn hóa thể thao

Năm 2019, các hoạt động văn hoá, thể thao đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Nhiều hoạt động với qui mô lớn, chất lượng cao, phục vụ các nhiệm vụ chính trị với nhiều hình thức phong phú, đa dạng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Các đơn vị nghệ thuật của ngành đã tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ lễ lớn, phục vụ chính trị, cũng như phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, công nhân các cụm, khu công nghiệp; 05 đội chiếu phim lưu động tổ chức tổ chức chiếu phim, tuyên truyền và phục vụ các nhiệm vụ chính trị trong ngày lễ lớn phục vụ các xã nông thôn mới, phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa và phục vụ công nhân các khu công nghiệp.

Đoàn thể thao Đồng Nai tham dự Seagames 30, diễn ra tại Philippines  xuất sắc dành được 02 huy chương Vàng (HCV), 05 huy chương Bạc (HCB) và 02 huy chương Đồng (HCĐ), góp phần cùng các thành viên trong Đoàn Thể thao Việt Nam giành vị trí thứ hai trong bảng tổng sắp huy chương.

13. Giải quyết việc làm

Trong năm 2019 đã giải quyết việc làm cho 88.541 lượt người, đạt 110,68% vượt 10,68% so với kế hoạch năm. Tổ chức 22 Sàn giao dịch việc làm (trong đó có 01 phiên tư vấn việc làm cho lao động thất nghiệp tại huyện Trảng Bom và 03 Sàn giao dịch việc làm lưu tại huyện Long Thành) với sự tham gia của 515 lượt doanh nghiệp và 8.450 lượt người lao động có nhu cầu tìm việc làm và tìm hiểu thông tin về lao động việc làm; số người được tư vấn 5.115 lượt người; số hồ sơ tiếp nhận tại sàn 3.850 hồ sơ.

 Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Đồng Nai đã tiếp nhận đăng ký thất nghiệp trên 51.000 người lao động, trong đó ban hành trên 51.674 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền hưởng trên 1.061.000 triệu đồng. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 54.000 lượt người lao động thất nghiệp, số người có quyết định hỗ trợ học nghề là 1.910 người.

Tỷ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo đạt 85%. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 59.09% năm 2018 lên 62% năm 2019, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.

14. Công tác giảm nghèo

Dự ước tháng 12, cho vay tổng số hộ vay là 301 hộ với số tiền 11.990 triệu đồng. Ước năm 2019, toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 3.675 hộ với số tiền 144.712 triệu đồng. Trong đó số hộ nghèo vay 701 hộ với số tiền 26.447 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 1.985 hộ với số tiền 79.014 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 989 hộ với số tiền 39.251 triệu đồng.

 

                                             ​CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

  ​

INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​