Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ, kịp thời cho cơ quan Thống kê là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp
Tích cực tham gia Điều tra Doanh nghiệp năm 2020 là góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Từ năm 2020, Doanh nghiệp cung cấp thông tin Thống kê trên trang thông tin điện tử điều tra doanh nghiệp tại địa chỉ http://thongkedoanhnghiep.gso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 & 02 tháng năm 2020

​          Tháng 02 năm 2020 là tháng sau tết Nguyên đán Canh Tý các hoạt động sản xuất kinh doanh và văn hóa xã hội đã bước vào hoạt động ổn định; các doanh nghiệp bước vào sản xuất kinh doanh với khí thế đầu năm mới. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh. Một số doanh nghiệp có quan hệ giao thương, nhập nguyên liệu từ Trung Quốc đang gặp khó khăn, dự báo nếu tình hình dịch bệnh kéo dài có khả năng một số doanh nghiệp không còn nguyên liệu để sản xuất và phải cho lao động ngừng việc tạm thời; Việc tạm thời dừng cấp giấy phép lao động đến từ vùng có dịch cũng khó khăn trong hoạt động của các doanh nghiệp. Trước tình hình dịch bệnh xảy ra; thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư trung ương Đảng và chỉ đạo của chính phủ; tỉnh ủy và UBND tỉnh vừa chỉ đạo, điều hành thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, vừa tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế, nỗ lực phấn đấu cao nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên một số ngành sản xuất kinh doanh chủ yếu tăng thấp so cùng kỳ. Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tháng 2 và 2 tháng đầu năm như sau:

1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp toàn tỉnh tháng 02/2020 dự ước tăng 23,34% so với tháng 02/2019, tăng 16,96% so với tháng trước. Nguyên nhân tháng 02/2020 tăng mạnh so tháng 01/2020 là do tháng 01 trùng vào tháng tết nguyên đán cổ truyền, các doanh nghiệp cho công nhân nghỉ từ 7 đến 9 ngày). Cộng dồn 2 tháng đầu năm 2020 tăng 7,05%. Trong đó: ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 2,86%; ngành công nghiệp chế biến tăng 8,59%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 10,92%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 3,15%. Sau đây là tình hình chỉ số sản xuất của các ngành công nghiệp cấp II như sau:

Chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 30,19% so cùng kỳ, cộng dồn 02 tháng tăng 8,08% so cùng kỳ do nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong dịp tết tăng cao; Ngành dệt tăng 23,69%, cộng dồn 02 tháng tăng 7,04%, đây là ngành sản xuất phụ trợ của ngành may mặc, hợp đồng sản xuất ổn định do các doanh nghiệp có hợp đồng từ đầu năm do đó mức tăng trưởng khá; Ngành sản xuất trang phục tăng 28,48%, cộng dồn 02 tháng tăng 9,98%; nhìn chung ngành dệt, may do tháng 02 đang có nguồn nguyên liệu dự trữ nên sản xuất chưa ảnh hưởng nhiều.

Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 29,90%, cộng dồn 02 tháng tăng 17,66%,  là ngành chiếm tỷ trọng cao về giá trị sản xuất trong toàn ngành công nghiệp và mức tăng trưởng 02 tháng đầu năm khá cao so cùng kỳ, nguyên nhân chính là do các công ty ký được hợp đồng sản xuất đến giữa năm hoặc cuối năm như Cty Chang shin có hợp đồng tới đầu năm 2021; Ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,18%, cộng dồn 02 tháng đầu năm 2020 tăng 2,91%... Bên cạnh đó chỉ số sản xuất của một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm so cùng kỳ như: Ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,85% so với tháng 02/2019. Cộng dồn 02 tháng đầu năm 2020 tăng 3,44%. Ngành sản xuất kim loại giảm 6,5%, cộng dồn 02 tháng giảm 6,35%. Nguyên nhân giảm là sự thu hẹp tỷ trọng xuất khẩu thép của Việt Nam tại Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu và do thép nhập khẩu từ nước ngoài; Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước: giảm 1,84 %, cộng dồn 2 tháng giảm 10,92%. Nguyên nhân giảm mạnh là từ tháng 01 lượng khí cấp bị sụt giảm nên nhà máy điện Nhơn Trạch phải vận hành bằng nhiên liệu dầu DO, do đó kết quả sản xuất không đạt kết quả được giao.

Nhìn chung dự ước chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh 02 tháng đầu năm như trên. Tuy nhiên thực tế hiện nay ngành sản xuất công nghiệp trên cả nước cũng như địa bàn tỉnh Đồng Nai đang gặp khó khăn, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên các ngành sản xuất dệt may, điện tử,.v.v.. nguồn nguyên liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc nhưng đã hạn chế nhập, trong khi nguồn nguyên liệu dự trữ sắp hết. Nếu sắp tới dịch bệnh không giảm thì xảy ra tình trạng không có nguyên liệu sản xuất, tình hình sản xuất công nghiệp tăng trưởng rất thấp.

* Sản phẩm sản xuất ước tháng 02 năm 2020 so với cùng kỳ: máy giặt 30,8 nghìn cái, giảm 19,37%; Cà phê các loại 44,2 nghìn tấn, tăng 77,6%; Giày dép 35 triệu đôi, tăng 29,07%; Vải các loại 58,2 triệu m2, tăng 6,68%; Quần áo các loại 17.576 nghìn cái, tăng 34,15%; bột ngọt 28,3 nghìn tấn, tăng 45,05%; Sợi các loại 129,9 nghìn tấn, tăng 23,55%; Thuốc lá sợi 1.897 tấn, tăng 16,38%; gường, tủ, bàn, ghế 1.263 nghìn chiếc, tăng 28,87% so cùng kỳ.

* Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2020 dự tính tăng 6,1% so với tháng 01/2020 và tăng 33,15% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ  tăng cao so tháng trước như: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 22,82%; sản xuất cao su và plastic tăng 15,84%; sản xuất đồ uống tăng 11,25%; sản xuất trang phục tăng 11,85%; sản xuất kim loại tăng 14,24%; ngành  Dệt tăng 4,34%; chế biến gỗ tăng 6,23%; sản xuất thuốc, hóa dược tăng 10,99%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,84%... Nguyên nhân chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng này tăng so tháng trước do tháng 01 là tháng tết doanh nghiệp nghỉ đón tết, nên sản lượng sản xuất và tiêu thụ giảm, bước sang tháng 02 đi vào hoạt động ổn định hơn.

 * Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 2/2020 dự tính tăng 1,65% so với tháng 1/2020 và tăng 15,02% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so tháng trước như sản xuất sản phẩm thuốc lá (+18,03%); Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy (+19,63%); sản xuất da và các sản phẩm liên quan (+1,95%); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (+ 2,95%); sản xuất điện tử, máy vi tính (+2,07%); sản xuất chế biến thực phẩm (+5,61%); một số ngành có chỉ số tồn kho giảm là: sản xuất thiết bị điện (-13,25%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (-21,67%); sản xuất trang phục (-4,69%)…

- Chỉ số sử dụng lao động: Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có sự biến động đáng kể. Chỉ số lao động trong các doanh nghiệp tháng 2 tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 6,24% so cùng kỳ năm 2019, trong đó: doanh nghiệp nhà nước tăng 0,03% so tháng trước và giảm 1,83% so cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tương ứng tăng 1,27% và tăng 4,7%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 0,99% và tăng 6,56% so cùng kỳ. Số lao động đang làm việc trong các ngành khai khoáng so tháng trước không tăng và giảm 2,1% so cùng kỳ; ngành chế biến, chế tạo tương ứng tăng 1,01% và 6,49%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng tương đương tháng trước và giảm 1,75%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 0,68 tháng trước và giảm 23,38% so cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động 2 tháng đầu năm của doanh nghiệp tăng 4,88% so cùng kỳ. Chia theo loại hình,doanh nghiệp nhà nước giảm 5,03%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 5,17%; doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tăng 5,07%. Chia theo ngành kinh tế cấp I: ngành khai khoáng giảm 1,92%; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,1%; sản xuất điện, khí đốt, nước nóng giảm 1,76%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 23,21% so cùng kỳ.

​          2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

2.1. Nông nghiệp

a. Cây hàng năm

- Tiến độ vụ Đông Xuân 2019 - 2020: Diện tích gieo trồng tính đến ngày 15/02 đạt 33.574 ha, giảm 2,72% (-937 ha) so cùng kỳ. Trong đó: diện tích cây lương thực đạt 20.752 ha, chiếm 61,18% so với tổng diện tích, giảm 4,34% (-942,5 ha); Cây củ có bột đạt 3.452 ha, chiếm 10,28% so với tổng diện tích, giảm 4,93% (-179 ha); Cây thực phẩm đạt 6.375 ha, chiếm 18,89% so với tổng diện tích, tăng 3,5% (+215,5 ha); Cây công nghiệp hàng năm đạt 1.346 ha, chiếm 4,01% so với tổng diện tích, giảm 3,99% (-56 ha); Cây hàng năm khác đạt 1.650 ha, chiếm 4,91% so với tổng diện tích, tăng 1,6% (+26 ha) so cùng kỳ.

b. Cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 172.149,78 ha, giảm 973,93 ha (-0,56%) so cùng kỳ; Trong đó diện tích cây ăn quả đạt 63.713,05 ha, tăng 5.558 ha (+9,56%); Cây công nghiệp lâu năm đạt 108.436,73 ha, giảm 6.031,7 ha (-5,27%) so cùng kỳ. Một số cây trồng chính trên địa bàn tỉnh diện tích giảm đáng kể so cùng kỳ như: điều giảm 2.468,3 ha (-6,78%); hồ tiêu giảm 2.862,65 ha (-17,28%), nguyên nhân giảm là do những cây trồng này có hiệu quả kinh tế thấp, hơn nữa giá bán trên thị trường không ổn định, một số diện tích điều, tiêu, cà phê có tuổi đời cao, đã già cỗi, năng suất thấp, nên người dân tự chuyển đổi sang trồng cây lâu năm khác hoặc trồng các lọai cây có hiệu quả kinh tế cao.

Về sản lượng, trong tháng người dân tập trung thu hoạch một số cây ăn trái như: Xoài đạt 8.232 tấn, lũy kế 2 tháng đạt 10.086 tấn, tăng 2,56%; Chuối đạt 7.985 tấn, lũy kế 2 tháng đạt 16.297 tấn, tăng 2,76%; Thanh long đạt 1.355 tấn, lũy kế 2 tháng đạt 2.710 tấn, tăng 2,38%; Cam 798,4 tấn, lũy kế 2 tháng đạt 9.774,8 tấn, tăng 1,74%; Bưởi 2.901,4 tấn, lũy kế 2 tháng đạt 5.833,7 tấn, tăng 2,87% so cùng kỳ.

c. Chăn nuôi

Tháng 02 năm 2020, ngành chăn nuôi tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh; Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã qua 30 ngày không phát sinh Dịch tả heo Châu Phi. UBND Tỉnh chỉ đạo các ngành, địa phương cần thực hiện chặt chẽ các giải pháp, đặc biệt tập trung thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học, tăng cường vệ sinh, tiêu độc khử trùng và kiểm soát vận chuyển để phòng và chống dịch bệnh có hiệu quả. Dự ước số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tại thời điểm tháng 02/2020 như sau:

Đơn vị tính

Chính thức cùng kỳ

Thực hiện kỳ báo cáo

So sánh cùng kỳ (%)

I. Gia súc

Con

2.608.027

2.120.018

81,29

1. Trâu

Con

3.789

3.756

99,13

2. Bò

Con

84.104

84.629

100,62

Tr. đó: Bò sữa

Con

438

584

133,33

3. Lợn

Con

2.520.134

2.031.633

80,62

II. Gia cầm

1000 con

23.691,00

25.139,24

106,11

Trong đó: Gà

1000 con

22.578,00

23.786,38

105,35

 

- Số lượng đàn: Tổng đàn gia súc hiện có là 2.120.018 con, giảm 488.009 con (-18,71%) so cùng kỳ. Trong đó trâu đạt 3.756 con giảm 0,87%, bò đạt 84.629 con tăng 0,62%; heo đạt 2.031.633 con, giảm 19,38%. Nguyên nhân số lượng heo giảm mạnh là do ảnh hưởng của Dịch tả heo Châu Phi nên số con giảm mạnh từ cuối năm 2019, hiện nay các doanh nghiệp có quy mô chăn nuôi lớn vẫn chưa kịp tái đàn trở lại. Sau Tết, giá heo hơi cũng giảm dần, hiện còn 70.000 đến 78.000 đồng/kg.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 02/2020 là 25.139,24 ngàn con, tăng 6,11% so cùng kỳ. Trong đó gà đạt 23.786,38 ngàn con, tăng 5,35% và chiếm 94,62% tổng đàn gia cầm. Đàn gà tăng chậm là do sau thời gian nghỉ Tết, thị trường gà công nghiệp do các bếp ăn tập thể, khu công nghiệp, trường học nghỉ Tết kéo dài do dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (virus Corona) gây ra khiến đầu ra của thị trường chững lại. Giá gà công nghiệp chỉ còn 13 đến 14 ngàn đồng/kg, gà tam hoàng còn 24 đến 26 ngàn đồng/kg, giá gà giảm do cơn khủng hoảng thừa của gà công nghiệp bởi tăng đàn quá nhanh.

Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện từ đầu năm 2020 đến nay, tính đến ngày 16/2, cả nước ghi nhận 16 ổ dịch cúm gia cầm (gồm 14 ổ dịch do H5N6 và hai ổ dịch do H5N1) ở các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Trà Vinh với tổng số gia cầm chết, tiêu hủy hơn 55.000 con. Hiện tại nguy cơ bùng phát cúm gia cầm với virus cúm A/H5N1 và A/H5N6 là rất lớn, người chăn nuôi gia cầm cần có các biện pháp đối phó, ngăn chặn dịch phát ra trên địa bàn.

- Sản lượng sản phẩm:  Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh trong tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước 19,5 tấn, giảm 7,14%; thịt bò dự ước 546,5 tấn, tăng 24,72%; thịt heo 38.571,67 tấn, tăng 1,43%; thịt gia cầm 11.475 tấn, tăng 17,04% so cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm đạt 75.235,6 ngàn quả, tăng 21,42% so cùng kỳ.

2.2. Hoạt động Lâm nghiệp

- Công tác trồng và chăm sóc, nuôi dưỡng rừng: Trong tháng 02/2020 tình hình sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là vẫn triển khai công tác Phòng cháy chữa cháy rừng và ươm cây giống lâm nghiệp. Hiện tại đang là mùa khô nên các đơn vị lâm nghiệp chưa triển khai công tác trồng rừng và đang xây dựng kế hoạch khai thác gỗ và lâm sản.  

2.3. Lĩnh vực Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản  tháng 02 trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh, người nuôi trồng thủy sản đã chú trọng đến đầu tư thâm canh tăng năng suất, để đạt được hiệu quả kinh tế cao, mặt khác quản lý tốt khâu thức ăn cho thủy sản, đồng thời bổ sung các loại thức ăn vi lượng, vitamin để tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi và cẩn thận đối với môi trường nước do đó dịch bệnh không xảy ra.

Dự ước sản lượng thủy sản trong tháng 02 ước đạt 5.881 tấn, tăng 2,67% so cùng kỳ, trong đó: cá đạt 5.231,4 tấn tăng 2,66%; tôm đạt 579,7 tấn, tăng 2,59%; thủy sản khác đạt 69,9 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ. Sản lượng cá chiếm 88,95% tổng sản lượng thủy sản, tăng so với cùng kỳ do nhu cầu của người tiêu dùng của mặt hàng thuỷ sản ngày càng tăng, một phần giá thịt heo trên thị trường vẫn ở mức cao. Theo những người dân nuôi cá nước ngọt thì hiện nay giá nhiều loại cá nước ngọt có xu hướng tăng và thị trường tiêu thụ xã hội ổn định.

3. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Sau tết Nguyên Đán sức mua trên thị trường giảm so tháng trước, do nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ tết Nguyên đán tập trung trong tháng 1, giá cả một số mặt hàng thực phẩm sau tết trở lại bình thường, thị trường bán lẻ tương đối ổn định. Đối với ngành dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí và dịch vụ khác do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 dẫn đến các lễ hội, du lịch, chùa chiền tạm dừng tổ chức đã làm cho doanh thu dịch vụ tháng 02 giảm so tháng trước. Vì thế hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa sau tết Nguyên Đán cũng giảm đáng kể, bên cạnh đó do dịch Covid-19 nên học sinh các cấp nghỉ học kéo dài, người dân ít đi lại làm cho doanh thu vận chuyển hành khách giảm. Tình hình thương mại, vận tải, dịch vụ lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác tháng 2 năm 2020 như sau:

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 02 năm 2020 ước đạt 14.828,73 tỷ đồng, giảm 10,42% so tháng trước. Dự ước 02 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 31.382,2 tỷ đồng, tăng 7,42% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước tăng 5,07%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 7,61%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,68%.

Tình hình bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 2 và 02 tháng năm 2020 phân theo ngành hoạt động

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 2/2020 dự ước đạt 11.231,82 tỷ đồng, giảm 11,81% so tháng trước và tăng 1,57% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân giảm là do tháng 2 là tháng sau tết nên nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng thiết yếu giảm mạnh, mặt khác do dịch bệnh nên người dân hạn chế đến các trung tâm thương mại, siêu thị.v.v.. mua sắm hàng hóa nên giảm hầu hết ở các nhóm hàng. Dự ước 02 tháng đạt 23.968,33 tỷ đồng, tăng 7,93% so cùng kỳ. Cụ thể ở một số nhóm ngành như sau:

- Doanh thu dịch vụ l­ưu trú tháng 2 ước đạt 26,36 tỷ đồng, giảm 5,89% so tháng trước, giảm 1,88% so cùng tháng năm trước. Lượt khách phục vụ đạt 274.306 lượt khách, giảm 3,76% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 0,92%; Ngày khách phục vụ đạt 206.827 ngày, giảm 0,63% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước tăng 0,55%. Dự ước 02 tháng đạt 54,38 tỷ đồng, tăng 0,34% so cùng kỳ. Lượt khách phục vụ đạt 559.318 lượt khách, so cùng kỳ tăng 0,2%; Ngày khách phục vụ đạt 414.963 ngày, so cùng kỳ tăng 0,09%.

- Dịch vụ ăn uống tháng 2 ước đạt 1.310,58 tỷ đồng, giảm 6,22% so tháng trước; giảm 1,35% so cùng tháng năm trước. Dự ước 02 tháng ước đạt 2.708 tỷ đồng, tăng 2,28% so cùng kỳ.

- Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 2/2020 ước đạt 7,91 tỷ đồng, giảm 9,86% so tháng trước, giảm 5,41% so cùng kỳ năm trước. Lượt khách du lịch theo tour 13.042 lượt, giảm 10,86% so tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 6,17%; Ngày khách du lịch theo tour 28.296 ngày, giảm 10,2% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 5,73%. Dự ước 02 tháng đạt 16,68 tỷ đồng, tăng 0,33% so cùng kỳ; Lượt khách du lịch theo tour 27.673 lượt, so cùng kỳ tăng 0,22%; Ngày khách du lịch theo tour 59.806 ngày, tăng 0,23% so cùng kỳ.

Mặc dù, các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, du lịch lữ hành đã chủ động đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên người dân hạn chế đi du lịch và đến các nơi công cộng, dẫn tới lượt khách của các ngành lưu trú, du lịch lữ hành giảm, do đó mức tăng các ngành này còn thấp so cùng kỳ. Các đơn vị kinh doanh ăn uống, ngoài việc chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh thì việc áp dụng “Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019, Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt” cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu của các đơn vị này, đặc biệt là doanh thu hàng chuyển bán của các quán nhậu.

- Doanh thu dịch vụ khác tháng 2 ước đạt 2.252,06 tỷ đồng, giảm 5,48% so tháng trước; tăng 5,09% so cùng tháng năm trước. Dự ước 02 tháng ước đạt 4.634,73 tỷ đồng, tăng 8,11% so cùng kỳ. Cụ thể ở một số ngành như:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tháng 02 và 02 tháng năm 2020

Đơn vị tính: Tỷ đồng

 

Kế hoạch
2020

Dự ước
02 tháng năm 2020

Chính thức 02 tháng năm 2019

Cơ cấu (%)

Ước 02 tháng năm 2020 so
cùng kỳ (%)

Tổng mức bán lẻ

193.100

31.382,18

29.213,68

100,00

         107,42

- Thương nghiệp

23.968,33

22.208,19

    76,38

         107,93

- Khách sạn, nhà hàng

2762,44

2.701,76

      8,80

         102,25

- Du lịch, lữ hành

16,68

16,63

      0,05

         100,30

- Dịch vụ

4.634,73

4.287,10

    14,77

         108,11

 

b. Chỉ số giá tiêu dùng

​         ​ Tháng 02 là tháng sau tết nên giá nhiều mặt hàng có xu hướng giảm do nhu cầu tiêu dùng của người dân không cao như trong tháng trước, Bên cạnh đó dịch cúm Covid-19 cũng ảnh hưởng đến giá một số mặt hàng trái cây xuất khẩu giá giảm nhiều dẫn đến giá trong nước giảm, tuy nhiên một số nhóm dịch vụ vẫn còn tăng cao so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2/2020 so với tháng trước tăng 0,31%; so với tháng 12/2019 tăng 2,11%; so với cùng tháng năm trước tăng 5,38%.

​         ​ So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa dịch vụ có 3 nhóm hàng hóa tăng gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,44%; Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,46%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,29%; 5 nhóm có chỉ số giá giảm là: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,46%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,13%; Nhóm thiết bị đồ dùng và gia đình giảm 0,03%; Nhóm giao thông giảm 2,49%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,83%; các nhóm cón lại giá hàng hóa ổn định.

​         ​ Tình hình giá cả các loại hàng hóa tăng, giảm như sau:

​         ​ - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: Chỉ số giá nhóm này so với tháng trước tăng 1,44%; so với cùng tháng năm trước tăng 8,96%. Trong đó.

Nhóm hàng lương thực so với tháng trước tăng 0,04% so với cùng tháng năm trước giảm 0,16%. Sau tết giá một số mặt hàng gạo đã giảm tuy nhiên tính theo giá bình quân thì còn tăng nhẹ.

Nhóm hàng thực phẩm trong tháng tăng 0,46% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 10,08%. Do vẫn còn ảnh hưởng của giá ngày Tết nên giá nhiều mặt hàng thực phẩm vẫn đang còn ở mức cao; tuy nhiên giá nhiều mặt hàng thực phẩm đã có xu hướng giảm đặc biệt là giá các mặt hàng thịt heo, bò, gà… việc bình ổn giá thịt heo trong tỉnh nên hiện nay giá heo hơi đã giảm còn khoảng 78.000 đồng/kg heo hơi làm cho giá các mặt hàng thịt heo giảm 0,17%; giá thịt bò bình quân tăng 3,12%. Các mặt hàng đậu, hạt giá giảm 4,69%...

Các mặt hàng trái cây như thanh long, dưa hấu giảm mạnh nguyên nhân là do hiện nay đã vào mùa thu hoạch sản lượng nhiều nhưng không xuất khẩu được sang Trung Quốc do ảnh hưởng dịch cúm Covid – 19 làm giá các mặt hàng này giảm mạnh.

Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,46% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 10,86%. Từ những ngày cuối tháng 1 giá nhiều dịch vụ ăn uống đã bắt đầu tăng do giá lương thực - thực phẩm, cũng như chi phí thuê nhân công tăng. Sang tháng 2 ở kỳ 1 và kỳ 2 giá các dịch vụ này vẫn chưa giảm nhiều tới kỳ 3 một số dịch vụ ăn uống đã giảm tuy nhiên tính bình quân vẫn tăng so với tháng trước như ăn ở quán bình dân tăng 4,8%; uống ngoài gia đình tăng 1,7%.

- Nhóm Đồ uống và thuốc lá: Chỉ số tháng này giảm 0,46% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,1%. Sau tết nhu cầu sử dụng bia, rượu, nước ngọt giảm mạnh cùng với việc thực hiện theo NĐ100/CP của Chính Phủ làm cho làm cho nhu cầu sử dụng các mặt hàng này không cao làm cho rượu, bia giảm 1,3%.

- Nhóm may mặc, mũ, nón, giày dép: Chỉ số giá tháng này giảm 0,13% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 1,23%.

- Nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD: Chỉ số giá tháng này tăng 0,46% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 4,8%. Trong đó giá nhà ở thuê tăng 0,69%. Tháng 2 thời tiết vẫn đang là mùa nắng nóng nên nhu cầu sử dụng điện, nước của người dân vẫn còn tăng làm cho giá bình quân của hai mặt hàng này trong tháng tăng như điện và dịch vụ điện tăng 1,5%; nước và dịch vụ nước tăng 1,2%; giá các mặt hàng gas và dầu hỏa giảm do ảnh hưởng của giá thế giới làm cho giá trong nước tăng như gas giảm 4,7%; dầu hỏa giảm 6,17%. Giá một số mặt hàng VLXD có xu hướng giảm do sau tết nhu cầu xây dựng chưa cao.

​         ​ - Nhóm Giao thông: Chỉ số giá nhóm này so với tháng trước giảm 2,49%; so với cùng tháng năm trước tăng 4,63%. Tháng 2 giá các mặt hàng xăng, dầu được điều chỉnh giảm do ảnh hưởng của giá thế giới. Chỉ số nhóm nhiên liệu giảm 5,46%. Cụ thể: Xăng A95 từ 21.049 đồng/lít giảm còn 19.837 đồng/lít (giảm 5,75%); Xăng E5 từ 19.859 giảm còn 18.867 đồng/lít (giảm 4,99%); Dầu diezen từ 16.564 đồng/lít giảm còn 15.633 đồng/lít (giảm 5,6%).

​         ​ - Nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch: Chỉ số giá nhóm này giảm 0,83% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 0,45%; Nguyên nhân là do sau tết nhu cầu chơi hoa, cây cảnh giảm làm cho giá các mặt hàng giảm 2,46%; giá dịch vụ nhà khách, khách sạn tăng 1,28% do một số nhà nghỉ tư nhân vẫn giữ mức giá tại thời điểm Tết Nguyên đán và chưa giảm giá. Trong tháng 2 do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 làm ảnh hưởng lớn đến việc đi du lịch của người dân, người dân hạn chế đi du lịch làm cho giá các tour du lịch giảm bình quân 5,35%.

​         ​ - Các nhóm còn lại có chỉ số giá ổn định, tăng giảm không nhiều.

​         ​ * Giá vàng trong tháng tiếp tục biến động. Trong tháng giá vàng bình quân tăng 3,11% so với tháng trước và so bình quân cùng kỳ tăng 19,37%.

​         ​ * Giá Đô la Mỹ trong tháng tăng 0,17% so tháng trước và giảm 0,32% so bình quân cùng kỳ.

c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 02 năm 2020 trên địa bàn dự ước đạt 1.475,19 triệu USD, tăng 3,41% so tháng trước. Dự ước 02 tháng ước đạt 2.901,7 triệu USD, tăng 2,83% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 84,14 triệu USD, tăng 1,25%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 512,77 triệu USD, tăng 2,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.304,82 triệu USD, tăng 2,99% so cùng kỳ. Nguyên nhân xuất khẩu 02 tháng đầu năm tăng thấp là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 các Doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng nông sản, may mặc, giày da của thị trường Trung Quốc giảm mạnh; mặt khác các ngành dệt may, điện tử do nguồn nguyên liệu sản xuất chủ yếu nhập từ Trung Quốc nay tạm ngưng nhập nguyên liệu nên sản xuất giảm sút làm cho xuất khẩu giảm.

Một số ngành hàng xuất khẩu 02 tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Hạt điều ước đạt 23,91 triệu USD (-28,34%); Cà phê ước đạt 81,06 triệu USD (+99,77%); Cao su ước đạt 6,3 triệu USD (-32,15%); Sản phẩm gỗ đạt 223,64 triệu USD (+17,68%); Hàng dệt may đạt 321,64 triệu USD (+7,04%); Giày dép các loại ước đạt 685,81 triệu USD (+8,54%); Máy vi tính, sản phẩm điện tử đạt 90,11 triệu USD (-4%); Máy móc thiết bị ước đạt 242,58 triệu USD (+8,57%); Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 141,97 triệu USD (+11,1%); Xơ, sợi dệt đạt 178,7 triệu USD (-23,1%); Sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 48,45 triệu USD (-3,2%); Hạt tiêu đạt 2,83 triệu USD (-9,15%); Sản phẩm sắt thép đạt 96,6 triệu USD (-8,47%) so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu tập trung chủ yếu ở các thị trường chủ lực truyền thống như: Hoa Kỳ: ước đạt 470,3 triệu USD, chiếm 30,6%; Nhật Bản: 179,6 triệu USD, chiếm 12,1%; Trung Quốc: 106,3 triệu USD, chiếm 10,4%… Các thị trường khác cũng có kim ngạch xuất khẩu khá cao như Hong Kong, Hàn Quốc, Bỉ, Đức, Úc, Thái Lan.

- Kim ngạch nhập khẩu tháng 02 năm 2020 ước đạt 1.145,5 triệu USD, tăng 14,64% so tháng trước. Dự ước 02 tháng đạt 2.144,73 triệu USD, giảm 9,05% so cùng kỳ, Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 16,92 triệu USD, giảm 6,17%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 396,88 triệu USD, giảm 9,51%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.730,93 triệu USD, giảm 8,97%. Nguyên nhân kim ngạch nhập khẩu 02 tháng đầu năm 2020 giảm là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã làm ảnh hưởng đến tình hình nhập khẩu của các doanh nghiệp nhất là đối với các mặt hàng Xơ, sợi dệt các loại; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày nhập khẩu của thị trường Trung Quốc. Cụ thể, một số mặt hàng biến động như sau: Thức ăn gia súc và nguyên liệu ước đạt 141,7 triệu USD (+41,1%); Sản phẩm hóa chất ước đạt 192,9 triệu USD (-6,9%); Chất dẻo 190,6 triệu USD (-14,48%); Vải các loại 113,7 triệu USD (-15%); Nguyên phụ liệu dệt, may ước đạt 118,53 triệu USD (-11,8%); Sắt thép các loại 152,84 triệu USD (-16,6%)…

Thị trường nhập khẩu chủ lực trong tháng 02 là: Trung Quốc: ước đạt 167,8 triệu USD, chiếm 23,1%; Hàn Quốc: ước đạt 184,4 triệu USD, chiếm 16,8%; Nhật Bản ước đạt 101 triệu USD, chiếm 8,43%; Các thị trường khác có kim ngạch nhập khẩu khá cao như: Hoa Kỳ, Thái Lan, Brazil, Indonesia… chiếm tỷ trọng từ 1,8% đến 7,3% tổng kim ngạch nhập khẩu.

d. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi tháng 2/2020: Dự ước doanh thu đạt 1.663,69 tỷ đồng, giảm 1,5% so tháng trước và tăng 9,2% so cùng tháng năm trước. Cụ thể:

+ Vận tải hành khách dự tính đạt 201,18 tỷ đồng, giảm 9,7% so tháng trước và giảm 2,18% so cùng tháng năm trước. Khối lượng vận chuyển ước đạt 5.666 nghìn HK, giảm 7,05% so tháng trước và giảm 1,56% so cùng tháng năm trước; Khối lượng luân chuyển ước đạt 313.316 nghìn HK.km, giảm 7,4% so tháng trước và giảm 0,23% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân tháng này giảm là do Tết Nguyên Đán năm 2020 nằm trọn trong tháng 01/2020 nên nhu cầu về quê ăn tết và trở lại làm việc nằm trọn trong tháng 01. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tất cả học sinh các cấp đều nghỉ học đến hết tháng 2/2020, ngoài ra do ảnh hưởng của dịch bệnh nên người dân hạn chế đi lại bằng phương tiện công cộng và xe khách đông người, do đó đã làm doanh thu vận tải hành khách giảm so tháng trước và giảm so cùng tháng năm trước.

+ Vận tải hàng hóa ước đạt 873,69 tỷ đồng, giảm 0,99% so tháng trước và tăng 11,29% so cùng tháng năm trước. Ước sản lượng vận tải hàng hóa tháng 02 năm 2020 đạt 5.533 nghìn tấn vận chuyển, so tháng trước giảm 0,76% và tăng 6,38% so cùng tháng năm trước; Khối lượng luân chuyển 395.743 nghìn tấn – km, so tháng trước giảm 0,53% và tăng 7,93% so cùng kỳ năm trước.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 588,82 tỷ đồng, tăng 0,85% so tháng trước và tăng 10,51% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân tăng là do tháng 01/2020 là tháng có Tết Nguyên Đán nên các doanh nghiệp được nghỉ tết nhiều, sang tháng 2 tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như xuất nhập khẩu hoạt động trở lại tuy có phần chững lại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên tình hình xuất nhập khẩu gặp khó khăn dẫn đến nhu cầu bốc xếp và lưu giữ hàng hóa tăng không đáng kể.

Hoạt động vận tải, kho bãi 02 tháng năm 2020: Dự ước doanh thu đạt 3.352,76 tỷ đồng, tăng 9,89% so cùng kỳ.

+ Vận tải hành khách dự ước doanh thu 02 tháng đạt 423,96 tỷ đồng, tăng 8,81%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 11.762,3 nghìn HK, tăng 4,78%; khối lượng luân chuyển ước đạt 651.667,7 nghìn HK.km, tăng 4,64% so cùng kỳ. Trong đó: Đường bộ đạt 11.541,2 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 4,85% và 651.524 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 4,64%; đường sông đạt 221 ngàn hành khách vận chuyển, tăng 1,06% và 143,7 ngàn hành khách.km luân chuyển, tăng 1,09%.

+ Vận tải hàng hóa ước doanh thu 02 tháng đạt 1.756,12 tỷ đồng, tăng 10,16% so cùng kỳ. Ước sản lượng vận tải hàng hóa đạt 11.109,2 nghìn tấn vận chuyển và 793.595,4 nghìn tấn - km luân chuyển, so cùng kỳ tăng 5,21% về vận chuyển và 5,99% về luân chuyển. Trong đó: Đường bộ đạt 10.848,7 ngàn tấn vận chuyển, tăng 5,28% và 749.760,5 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 6,21%; đường sông đạt 260,5 ngàn tấn vận chuyển, tăng 2,41% và 43.834,9 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 2,43%.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 02 tháng/2020 ước đạt 1.172,68 tỷ đồng, tăng 9,88% so cùng kỳ.

­4. Vốn đầu tư phát triển.

Dự ước thực hiện vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do địa phương quản lý tháng 02 năm 2020 thực hiện 376,6 tỷ đồng, tăng 8,5% so với tháng 1 năm 2020, tăng 30,41% so cùng kỳ. Nguyên nhân tháng 2 tăng so tháng 1 là do tháng 01 trùng vào dịp tết nguyên đán Canh Tý thời gian nghỉ từ 7 - 9 ngày tiến độ thực hiện các dự án chậm hơn so tháng 02/2020. Trong tháng 02/2020 các chủ đầu tư chủ yếu thực hiện các công trình chuyển tiếp từ năm 2019. Do vậy tình hình thực hiện vốn đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng so với tháng trước và tăng cao so cùng kỳ năm trước vì tháng 02/2019 trúng vào tháng tết. Lũy kế 2 tháng ước thực hiện 723,7 tỷ đồng, tăng 13,18% so cùng kỳ và bằng 9,4% so kế hoạch năm 2020. Tình hình thực hiện các nguồn vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương như sau:

a. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh quản lý

Ước tháng 02 năm 2020 thực hiện 226,7 tỷ đồng, tăng 8,3% so với tháng 1/2020 và tăng 27,5% so cùng kỳ. Lũy kế 2 tháng đầu năm ước thực hiện 436,22 tỷ đồng, tăng 14,57% so cùng kỳ và bằng 9,3% so với kế hoạch năm.

Tình hình thực hiện công trình trọng điểm trong tháng 02/2020 như sau:

- Công trình chuyển tiếp: Dự án mở rộng, tu bổ tôn tạo di tích đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh: Vốn kế hoạch 2020 được ghi vốn là 57 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 2/2020 là 2 tỷ đồng; Dự án Đường kết nối vào cảng Phước An (đoạn từ đường 319 đến nút giao cắt với đường cao tốc Bến Lức – Long Thành), Vốn kế hoạch 2020 được ghi vốn: 38,20 tỷ đồng.. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 2/2020 là 2,7 tỷ đồng,

-  Các dự án sẽ được khởi công mới trong năm 2020

+ Dự án Xây dựng cầu Vàm Cái Sứt trên đường Hương lộ 2 nối dài

+ Dự án Đường Hương lộ 2 - Đoạn 1

+ Dự án Cải tạo nâng cấp đường ĐT,768 đoạn từ cầu Vượt Thủ Biên đến giao với đường ĐT,767, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh

- Các dự án khác: Dự án xây dựng nâng cấp mở rộng đường Đỗ Văn Thi xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa: Dự ước tháng 2/2020 thực hiện 1,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng hồ chứa nước Cầu Dầu – TP. Long Khánh: Dự ước thực hiện tháng 2/2020 là 980 triệu đồng; Dự án xây dựng nâng cấp đường vào khu hành chính huyện Long Thành dự ước thực hiện tháng 2/2020 là 2,6 tỷ đồng.

b. Nguồn vốn ngân sách nhà nước do cấp huyện quản lý:

Dự ước tháng 02 năm 2020 thực hiện 122,8 tỷ đồng, tăng 9,1% so với tháng 1/2020 và tăng 43,33% so cùng kỳ. Lũy kế 2 tháng ước thực hiện 235,4 tỷ đồng, tăng 14,24% so cùng kỳ  và bằng 10,2% so kế hoạch năm 2020. Tình hình thực hiện các công trình như sau: Dự án xây dựng trung tâm hành chính huyện Long Thành dự ước thực hiện tháng 2/2020 là 2,2 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường vào khu TĐC ấp 3 xã Phú Lợi tháng 2/2020 ước thực hiện 1,9 tỷ đồng; Dự án làm đường Nguyễn Hữu Cảnh  đoạn song hành QL1A từ đường Đinh Tiên Hoàng đến ngã ba cây gáo H.Trảng Bom tháng 2/2020 ước thực hiện 1,7 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường Cây Khế - Bưng Môn ở Huyện Long Thành tháng 2/2020 ước thực hiện 1,5 tỷ đồng.

c. Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do cấp xã quản lý:

Dự ước tháng 02 năm 2020 thực hiện 27,03 tỷ đồng, tăng 8% so tháng 1/2020 và tăng 6,86% so với cùng kỳ. Lũy kế 2 tháng thực hiện 52,05 tỷ đồng  giảm 1,01% so cùng kỳ và bằng 8% so kế hoạch.

Nhìn chung tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 2/2020 còn chậm do mới ra tết chưa có dự án khởi công mới bên cạnh đó còn gặp những khó khăn nhất định do sau tết tình hình lao động giảm, giá nhân công tăng, công tác giải phóng mặt bằng có một số công trình còn chậm, công tác giải ngân ở các công trình xây dựng cơ bản còn chậm nên ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện dự án

​         ​ ​5. Thu hút đầu tư

Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đến ngày 18/02/2020 đạt 161 triệu USD, bằng 78,2% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp mới 15 dự án với vốn đăng ký 54 triệu USD, tăng 6,67%; điều chỉnh vốn 13 dự án với vốn bổ sung 107,67 triệu USD, tăng 196,12% so cùng kỳ.

Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn đến ngày 18/02/2020 là 4.369,19 tỷ đồng, tăng 164,9% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 15 dự án với số vốn là 4.048, 87 tỷ đồng, tăng 153,2%; điều chỉnh tăng vốn 1 dự án với số vốn là 321,3 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến ngày 15/02/2020, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 3.623 tỷ đồng, bằng 57,3% so với cùng kỳ, trong đó số đăng ký thành lập mới là 372 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 3.175 tỷ đồng, bằng 67% so cùng kỳ và 32 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với vốn đăng ký bổ sung là 448 tỷ đồng.

Tiếp tục triển khai thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng và trả kết quả tại nhà: tính từ ngày 01/02/2020 đến ngày 15/02/2020 đã có 415 lượt doanh nghiệp đăng ký trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, 40 doanh nghiệp đăng ký trả kết quả tại nhà.

6. Tài chính – Ngân hàng

a. Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước hai tháng đầu năm ước đạt 11.100 tỷ đồng, đạt 21% dự toán năm và tăng 53% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa là 8.900 tỷ đồng, đạt 25% so với dự toán năm và tăng 89% so với cùng kỳ; Thu lĩnh vực xuất nhập khẩu: 2.200 tỷ đồng, đạt 13% dự toán năm và bằng 87% so với cùng kỳ.

Dự ước tổng chi NSĐP hai tháng đầu năm là 2.350 tỷ đồng, đạt 11% so với dự toán và tăng 11% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 450 tỷ đồng, đạt 6% so dự toán và tăng 10%; Chi thường xuyên 1.900 tỷ đồng, đạt 14% so với dự toán đầu năm và tăng 12% so cùng kỳ.

b. Hoạt động ngân hàng

Thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Đồng Nai kịp thời triển khai các chủ trương, chính sách mới về tiền tệ, ngân hàng đến các TCTD. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các TCTD trên địa bàn đảm bảo thanh khoản và an toàn hệ thống nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng.

- Hoạt động huy động vốn: Đến ngày 29/02/2020, tổng vốn huy động trên địa bàn ước đạt 204.373 tỷ đồng, tăng 2,77% so với 31/12/2019. Trong đó: Tiền gửi bằng đồng Việt Nam đạt 191.268 tỷ đồng, tăng 2,87% so đầu năm; Tiền gửi bằng ngoại tệ đạt 11.884 tỷ đồng, giảm 0,90%/năm so đầu năm. Do lãi suất huy động USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức nên tiền gửi ngoại tệ tăng không đáng kể so với cuối năm 2019.

- Hoạt động tín dụng: Đến 29/02/2020 tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn ước đạt 219.946 tỷ đồng, tăng 3,44% so với 31/12/2019 (trong đó nợ xấu ước chiếm 0,85% trên tổng dư nợ cho vay). Tổng dư nợ cho vay ước đạt 218.046 tỷ đồng, tăng 3,47% so với 31/12/2019. Dư nợ cho vay bao gồm: Dư nợ ngắn hạn đạt 114.909 tỷ đồng, tăng 3,78% so đầu năm; Dư nợ trung, dài hạn đạt 103.136 tỷ đồng, tăng 3,12% so đầu năm. Hiện mặt bằng lãi suất cho vay VND phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn. Hiện lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3,0-6,0%/năm; trong đó lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 3,0-4,7%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn ở mức 4,5-6,0%/năm.

Hệ thống Ngân hàng trên địa bàn thực hiện tốt công tác thanh toán, tăng cường công tác thanh toán không dùng tiền mặt; đáp ứng kịp thời và đầy đủ lượng tiền mặt và cơ cấu các loại tiền phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Từ đầu năm đến 29/02/2020 doanh số thanh toán hàng xuất khẩu ước đạt 691 triệu USD, tăng 9,67% so với cùng kỳ; thanh toán hàng nhập khẩu ước đạt 666 triệu USD, tăng 44,6% so cùng kỳ.

7. Một số tình hình xã hội

a. Văn hóa thông tin

Tháng 02 năm 2020 toàn ngành Văn hóa – thể thao và du lịch tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch nhằm tạo không khí phấn khởi trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tỉnh Đồng Nai; tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Hoạt động biểu diễn nghệ thuật: Nhà hát Nghệ thuật Đồng Nai thực hiện 21 các buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân các chương trình như: chương trình nghệ thuật đêm Giao thừa 2020; Chào đón xuân Canh Tý 2020; Họp mặt Kiều bào 2020; Khai mạc Hội báo Xuân 2020; khai mạc Hội hoa Xuân; Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng; Lễ ra quân năm An toàn giao thông 2020…

- Hoạt động Phát hành phim và chiếu bóng: 05 đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim và các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, phục vụ các xã nông thôn mới và công nhân tại các khu công nghiệp trong tỉnh. Trong tháng, các đội chiếu phim đã thực hiện 192 buổi chiếu phim lưu động, thu hút 23.200 lượt xem.

b. Thể dục, thể thao

Trong tháng 02, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao đã phối hợp các đơn vị, địa phương tập trung tổ chức các giải trong khuôn khổ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao Mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý 2020; Tham gia giải Cờ Vua, Cờ tướng Đồng bằng Sông Cửu Long mở rộng, tại Đồng Tháp;  tham gia giải Việt dã leo núi Tà Cú tại Bình Thuận, và Chuẩn bị công tác tổ chức giải trong quí I năm 2020.

c. Giáo dục - Đào tạo

      Trước những diễn biến mới của dịch Covid-2019. Ngày 17/02 UBND tỉnh đã ký văn bản về việc tiếp tục cho học sinh toàn tỉnh được nghỉ học đến hết tháng 02/2020 để phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-2019. 

Công tác phòng ngừa dịch bệnh theo chỉ đạo của Bộ GD – ĐT và tạo điều kiện cho học sinh được ôn tập bài trong thời gian nghỉ dài không đến trường học, nhiều trường học trong tỉnh đã chủ động dạy học, ôn tập online cho học sinh với nhiều hình thức dạy học khá phong phú;

Sở GD-ĐT phối hợp với Đài PT-TH Đồng Nai tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình hỗ trợ học sinh ôn tập kiến thức trong thời gian phải tạm nghỉ học. Chương trình được ưu tiên sản xuất và phát sóng phục vụ học sinh lớp 9 và học sinh lớp 12.

Viễn Thông Đồng Nai (VNPT Đồng Nai) hỗ trợ các trường học trên địa bàn tỉnh triển khai hình thức ôn tập trực tuyến qua mạng bằng hệ thống E- Elearning trong thời gian tạm nghỉ học. Hiện tại đã triển khai đến giáo viên của 150 trường trên địa bàn tỉnh và có trên 50 trường áp dụng được hệ thống E- Elearning vào hỗ trợ cho học sinh ôn tập... Các chương trình học trực tuyến đã tạo điều kiện cho học sinh được học và ôn tập bài trong thời gian nghỉ học, các trường chủ động thời gian cập nhật kiến thức cho học sinh, sinh viên đảm bảo các phương án điều chỉnh hoạt động dạy học của Bộ GD-ĐT, đảm bảo an toàn trong nhà trường và chất lượng chương trình đào tạo năm học 2020 – 2021.

d. Y tế

Tính đến ngày 13/02/2020: Tỉnh Đồng Nai chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCoV) gây ra và số trường hợp nghi ngờ, có yếu tố tiếp xúc dịch bệnh được cách ly theo dõi tại bệnh viện là 02 trường hợp, cách ly theo dõi tại cộng đồng cộng dồn là 762 trường hợp (theo dõi đã qua 14 ngày: 169 trường hợp; đang theo dõi: 593 trường hợp).

Tình hình dịch bệnh phát sinh trong tháng 02/2020 như sau:             

- Sốt xuất huyết: 441 trường hợp mắc Sốt xuất huyết, giảm 45,2% so với tháng trước, giảm 45,2% so với tháng cùng kỳ. Trong đó số ca mắc SXH ≤ 15 tuổi là 276 ca, chiếm tỷ lệ 62,6%. Không ghi nhận ca tử vong. So với tháng trước, số trường hợp mắc giảm nhiều ở thành phố Biên Hòa (165 trường hợp), huyện Long Thành (66 trường hợp), Nhơn Trạch (52 trường hợp); tăng nhẹ ở huyện Vĩnh Cửu (4 trường hợp), Xuân Lộc (1 trường hợp).

Hoạt động xử lý ổ dịch: Tổng số ổ dịch sốt xuất huyết Dengue được xử lý và phát hiện trong tháng là 86/87 đạt tỷ lệ 98,85%. Số ổ dịch phát hiện giảm 55,15% so với cùng kỳ năm 2019 (194 ổ dịch).

 - Sốt rét: Trong tháng không ghi nhận trường hợp mắc sốt rét, giảm 03 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019.  Không ghi nhận ca tử vong. Số xét nghiệm thực hiện trong tháng: 2.313 mẫu.

- Sởi: Trong tháng có 70 trường hợp mắc, giảm 26,3% so với tháng trước (95 trường hợp) và giảm 83% so với tháng cùng kỳ năm 2019 (414 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong. So với tháng trước, số trường hợp mắc bệnh giảm ở 10/11 huyện/TP (trừ huyện Cẩm Mỹ), trong đó giảm nhiều ở thành phố Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch, Trảng Bom.

- Hội chứng tay chân miệng: Trong tháng có 197 trường hợp mắc TCM, giảm 51,8% so với tháng trước (409 trường hợp) và giảm 51,2% so với tháng cùng kỳ năm 2019 (404 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp tử vong. So với tháng trước, số trường hợp mắc giảm ở tất cả các địa phương, giảm nhiều nhất ở thành phố Biên Hòa và huyện Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Thống Nhất.

Trong tháng phát hiện 31 ổ dịch và xử lý 29 ổ dịch, số ổ dịch phát hiện tăng 14,8% so với tháng trước (27 ổ dịch).

* Hoạt động phòng, chống dịch

Dịch Covid - 19: Tổ chức tập huấn cán bộ tại địa phương, hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCoV); phun khử trùng Cloramin B tại 500/1.265 trường học trên địa bàn tỉnh, 9.867 phòng học được phun khử trùng; Theo dõi sức khỏe, cách ly các trường hợp nghi ngờ nhiễm bệnh tại bệnh viện và cộng đồng; Tiếp tục duy trì hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh. Chuẩn bị đầy đủ cơ số chống dịch, cơ sở vật chất, vật tư y tế, hóa chất, trang thiết bị, thuốc men để đáp ứng kịp thời khi có dịch xảy ra, đồng thời cấp bổ sung vật tư, hóa chất, trang thiết bị chống dịch cho các bệnh viện tư nhân. Tiếp tục khám sàng lọc cho các hành khách từ Trung Quốc đến Đồng Nai; rà soát, lập danh sách người về từ địa phương có dịch để khám sức khỏe, hướng dẫn cách ly theo hướng dẫn.

Sốt xuất huyết: Theo dõi tình hình ca bệnh sốt xuất huyết, đồng thời giám sát điều tra ca bệnh; xác minh, xử lý ổ dịch tại các địa phương trên địa bàn. Giám sát Chiến dịch diệt lăng quăng, giám sát bọ gậy nguồn cùng Viện Pasteur tại các huyện Trảng Bom, Nhơn Trạch, Long Thành và thành phố Biên Hòa. Phun hóa chất chủ động diện rộng tại P. Trảng Dài, P. Long Bình và P. Tam Phước - TP. Biên Hòa; Thị trấn Hiệp Phước và xã Phước Thiền - huyện Nhơn Trạch.

Sởi, Tay chân miệng: Thực hiện điều tra, xử lý trường hợp mắc bệnh Sởi tại địa phương khi nhận được thông tin từ tuyến trên, cấp phát Cloramin B cho các hộ gia đình trong khu vực ổ dịch; Theo dõi tình hình bệnh Sởi trên địa bàn toàn tỉnh.

Sốt rét: Thực hiện giám sát côn trùng định kỳ truyền bệnh Sốt rét tại huyện Định Quán, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc. Cấp phát thuốc, vật tư xét nghiệm, test chẩn đoán cho các Trung tâm Y tế, Bệnh viện tuyến tỉnh; điều tra trường hợp bệnh mắc sốt rét tại cộng đồng.

- Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm

Duy trì thực hiện tốt công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức cho các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm, góp phần ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm tới người sử dụng. Tiếp tục thực hiện tốt công tác thanh kiểm tra liên ngành, xử lý nghiêm những cơ sở vi phạm các điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

Trong tháng 02 tổ chức 3.625 lượt thanh tra, kiểm tra cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm, trong đó: 3.075 cơ sở đạt (chiếm 84,83%), số cơ sở vi phạm là 550 cơ sở, trong đó phạt tiền 08 cơ sở với 24.500.000 đồng và nhắc nhở 542 cơ sở. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.

e. Lao động - việc làm

* Tác động của dịch Covid -19 đến tình hình lao động

Về tình hình lao động việc làm tại địa phương: Tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp hiện vẫn duy trì hoạt động, số công nhân cơ bản ổn định. Hiện nay phần lớn các công ty, đặc biệt là công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng tại các khu công nghiệp trên địa bàn Đồng Nai đã áp dụng các biện pháp phòng chống dịch virus Corona (Covid-19) gây ra, kiểm tra, giám sát ngay từ khi người lao động bước vào nhà máy làm việc.

Tuy nhiên, dịch Covid -19 cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn (theo số liệu báo cáo của Sở LĐTBXH tỉnh) như sau:

+ 03 doanh nghiệp đã tạm ngừng hoạt động (cho người lao động tạm nghỉ việc)

+ Số lao động là người Trung Quốc đang làm việc tại các doanh nghiệp: 2.089 người, số lao động là người Trung Quốc về quê nhân dịp Tết Nguyên Đán và quay trở lại Việt Nam: 676 người. Trong đó: Số người đang bị cách ly tại bệnh viện 2 ca là người Trung Quốc; tự cách ly tại nhà, nơi lưu trú là 559 người nước ngoài, đa số lao động Trung Quốc.

+ 01 doanh nghiệp có xảy ra đình công do người lao động xin nghỉ để trông con tuần đầu xảy ra dịch.

+ Công ty Group Intellect Power Technologi Việt Nam tại KCN Long Khánh phản ứng về quy trình xử lý trường hợp nghi nhiễm bệnh của 01 chuyên gia người Trung Quốc của Trung tâm Y tế và Bệnh viên Long Khánh khiến tình hình lao động của doanh nghiệp đang diễn biến xấu.

* Giải quyết việc làm

Trong tháng 02 giải quyết việc làm cho 5.195 lượt người. Trong đó: Doanh nghiệp tuyển dụng 3.785 lượt người; lồng ghép các chương trình KTXH khác tuyển dụng 1.410 lao động. Trong đó: Chương trình cho vay hộ nghèo để giải quyết việc làm 116 lao động, chương trình đào tạo nghề lao động nông thôn 264 lao động, các chương trình khác 627 lao động; cho vay vốn giải quyết việc làm 374 lao động… Lũy kế từ đầu năm giải quyết cho 9.973 lượt người, giảm 2,96% so với cùng kỳ.

f. Đào tạo nghề

Trong tháng 02, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới đào tạo cho 3.953 người, trong đó Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn có 106 người. Toàn tỉnh có 3.509 người tốt nghiệp các khóa đào tạo sơ cấp và đào tạo thường xuyên, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn có 282 người tốt nghiệp, trong đó có 264 người có việc làm, chiếm 93,5% trên tổng số người tốt nghiệp.

​CỤC THỐNG KÊ ĐỒNG NAI

INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​