Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ, kịp thời cho cơ quan Thống kê là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp
Tích cực tham gia Điều tra Doanh nghiệp năm 2020 là góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Từ năm 2020, Doanh nghiệp cung cấp thông tin Thống kê trên trang thông tin điện tử điều tra doanh nghiệp tại địa chỉ http://thongkedoanhnghiep.gso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 & Quý I năm 2020

​        Thực hiện Nghị quyết số: 184/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. UBND tỉnh sớm triển khai việc giao chỉ tiêu kế hoạch KTXH năm 2020 cho các ngành và địa phương, đồng thời Tỉnh ủy, UBND có sự chỉ đạo tích cực ngay từ những tháng đầu năm. Tuy nhiên do phát sinh dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội trên đại bàn tỉnh. Về sản xuất kinh doanh, số doanh nghiệp đang gặp phải khó khăn về nguyên vật liệu, đơn hàng từ Trung Quốc và một số nước đang có dịch, bên cạnh đó do ảnh hưởng dịch bệnh doanh thu ngành Thương mại dịch vụ, Du lịch trên địa bàn cũng giảm mạnh. Trước tình hình dịch bệnh xảy ra; thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư trung ương Đảng và chỉ đạo của chính phủ; tỉnh ủy và UBND tỉnh vừa chỉ đạo, điều hành thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19, vừa tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế, nỗ lực phấn đấu cao nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tháng 3 và quý I năm 2020 như sau:

1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh tháng 3 năm 2020 ước tăng 2,85% so tháng trước và tăng 6,61% so cùng kỳ năm trước, trong đó ngành Khai khoáng tăng 2,64%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,43%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 2,5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 0,87%. Trong các ngành công nghiệp cấp II có một số ngành giảm so cùng kỳ như: sản xuất đồ uống giảm 15,89%; sản xuất kim loại giảm 19,88% do sự thu hẹp tỷ trọng xuất khẩu thép của Việt Nam tại Hoa Kỳ và liên minh Châu Âu; sản xuất thiết bị điện giảm 7,49%; sản xuất thiết bị điện tử và sản phẩm quang học giảm 1,72%....

Tính chung 3 tháng đầu năm, IIP ước tính tăng 6,11% so với cùng kỳ năm trước (3 tháng đầu năm 2019 tăng 7,56%). Trong đó, ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 0,24% (cùng kỳ năm trước tăng 7,56%); ngành chế biến, chế tạo tăng 7,04% (cùng kỳ năm trước tăng 7,74%); ngành sản xuất và phân phối điện giảm 4,58% (cùng kỳ năm trước tăng 5,03%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,23% ( cùng kỳ năm trước tăng 11,33%)

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nguồn nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc phục vụ sản xuất một số ngành công nghiệp bị giảm sút so với thời điểm trước khi có dịch. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 3 tháng giảm thấp hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại giảm 13,74%; sản xuất đồ uống giảm 8,71%; sản xuất sản phẩm điện tử giảm 6,58%, đây là ngành có sự ảnh hưởng lớn nhất trong toàn ngành do diễn biến của dịch bệnh Covid - 19, nhiều hợp đồng sản xuất kinh doanh phải hủy bỏ, một số doanh nghiệp khác sản xuất cầm chừng cụ thể như: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Olypus Việt Nam giảm 27,48%, Công Ty Nec ToKin Elictronics Việt Nam giảm 13,42%, đặc biệt Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thiết Bị Tân Tiến Sumiden Việt Nam giảm 53,2% do không có hợp đồng phải cho công nhân nghỉ, sản xuất gián đoạn, công ty điện tử TCL gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do thị trường đầu ra bị cạnh tranh gay gắt; Sản xuất thiết bị điện giảm 3,74%...

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 4,58% vì từ tháng 1 lượng khí cấp bị sụt giảm nên nhà máy điện Nhơn trạch phải vận hành bằng nhiên liệu dầu DO, do đó kết quả sản xuất từ đầu năm so cùng kỳ giảm;

Ngành Dệt chỉ tăng 3,12%, ngành này chủ yếu nguyên vật liệu đầu vào nhập từ Trung Quốc Đại Lục nhưng do dịch Covid – 19 ảnh hưởng nên một số doanh nghiệp có mức sản xuất giảm nhiều như Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Jaeiu Việt Nam (giảm 23,23%), Công Ty TNHH Quốc Tế Gold Long Jhon Đồng Nai Việt Nam có mức giảm trên 70% làm ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số chung của ngành.

Nhìn chung quý I năm 2020 tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn có mức tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn ở hầu hết các ngành công nghiệp thể hiện qua kết quả chỉ số sản xuất công nghiệp, trong đó trong quý I/2020 7/27 ngành sản xuất chỉ số giảm so cùng kỳ, đây là quý đầu năm có số ngành giảm nhiều nhất trong các năm gần đây, có 20/27 ngành có mức tăng. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do ảnh hưởng của đại dịch Covid -19 đặc biệt là ngành điện tử, dệt may mặc, có mức tăng chậm và giảm sâu, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung của toàn ngành.

 Chỉ số sản phẩm công nghiệp ước tháng 3 năm 2020 tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: cà phê các loại 42 nghìn tấn, tăng 31,73%; giày dép các loại 37,7 triệu đôi, tăng 17,54%; bột ngọt 26,5 nghìn tấn, tăng 13,29%; quần áo các loại 15.485 nghìn cái, tăng 11,06%; Gường , tủ , bàn ghế 1.146,7 nghìn chiếc, tăng 6,52%; đá xây dựng 1.605,2 nghìn m3 tăng 2,64%; sợi các loại 123,8 nghìn tấn, tăng 2,2%; bao bì các loại 17,3 nghìn tấn, tăng 1,95%... Ngoài ra một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: máy giặt 29,5 nghìn cái, giảm 26,61%; thép dạng thô 50 nghìn tấn, giảm 18,63%;  sơn các loại 10,2 nghìn tấn, giảm 8,83%; vải các loại 55 triệu m2, giảm 5,06%.

2. Xây dựng

        Đồng Nai là tỉnh phát triển sản xuất công nghiệp và thu hút dự án đầu tư nước ngoài mạnh, nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng và nhà ở dân cư tăng cao. Tuy nhiên quý I/2020 là quý đầu năm nên một số dự án mới chưa được triển khai. Bên cạnh đó, dịch COVID-19 có diễn biến phức tạp, nhiều doanh nghiệp thiếu nhân công làm việc. Trong quý 1/2020 các nhà thầu chủ yếu tập trung thi công các công trình chuyển tiếp từ năm 2019 nên giá trị sản xuất ngành xây dựng ở hầu hết các thành phần kinh tế đều giảm so quý 4 năm 2019.

          Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn tính theo giá hiện hành quý I/2020 đạt 9.481,17 tỷ đồng, giảm 25,55% so với quý IV/2019 và tăng 7,33% so cùng kỳ.

Giá trị sản xuất xây dựng quý I theo giá so sánh 2010 (giá sản xuất) ước đạt 6.606,96 tỷ đồng, tăng 7,04% so với cùng kỳ.

​           3. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Thời tiết vụ Đông xuân vào mùa khô, nắng, nóng kéo dài nên ảnh hưởng tới tiến độ gieo trồng các loại cây trồng, tuy nhiên ngay từ đầu vụ người dân đã chủ động khâu làm đất, trên những diện tích sau khi thu hoạch vụ Mùa 2019 để kịp thời gieo trồng vụ Đông xuân. Tính đến ngày 15/3/2020 diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân đạt 38.734 ha, giảm 0,07% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích cây lương thực đạt 24.355 ha, giảm 0,81%; Cây thực phẩm đạt 6.470 ha, tăng 0,41%; Cây củ có bột đạt 4.276 ha, tăng 3,32%; Cây công nghiệp hàng năm đạt 1.678 ha, tăng 0,56%; Cây hàng năm khác đạt 1.955 ha, giảm 0,13% so cùng kỳ.

Dự ước sản lượng thu hoạch so cùng kỳ như sau: Lúa đạt 5.506 tấn, tăng 15 tấn (+0,27%); Bắp đạt 5.093 tấn, giảm 98 tấn (-1,89%); Khoai lang đạt 108 tấn, tăng 5 tấn (+4,53%); Rau các loại đạt 4.775 tấn, tăng 76 tấn (+1,62%); Đậu các loại đạt 118 tấn, tăng 3 tấn (+2,61%); Đậu tương đạt 18 tấn, tăng 3 tấn (+16,01%); Đậu phộng là 57 tấn, tăng 1 tấn (+1,53%) và Mía đạt 2.338 tấn, giảm 62 tấn (-2,58%) so cùng kỳ.

Cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh hiện có là 169.885 ha, giảm 1,87% so cùng kỳ. Trong đó cây ăn quả đạt 63.722 ha, tăng 9,57%, cây công nghiệp lâu năm đạt 106.163 ha, giảm 7,66% so cùng kỳ. Một số cây trồng chính trên địa bàn tỉnh diện tích giảm đáng kể so cùng kỳ như: điều giảm 2.469 ha (-6,78%); Hồ tiêu giảm 2.862 ha (-17,28%), cao su giảm 1.299,5 ha (-2,76%), nguyên nhân do sản lượng của các loại cây này đạt thấp, giá bán không ổn định, nên người dân tự chuyển đổi sang trồng cây lâu năm khác hoặc trồng các lọai cây có hiệu quả kinh tế cao.

Dự ước sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu: Xoài đạt đạt 24.117,92 tấn, tăng 3,31%; Chuối 26.432,3 tấn, tăng 2,39%; Thanh long 4.035,2 tấn, tăng 2,51%; Cam đạt 2.507,2 tấn, tăng 3,92%; Bưởi 9.239,1 tấn, tăng 2,37% so cùng kỳ.

Chăn nuôi

Quý I/2020 ngành chăn nuôi tiếp tục triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh; hiện nay trên địa bàn tỉnh không phát sinh Dịch tả heo Châu Phi, UBND Tỉnh chỉ đạo các ngành, địa phương cần thực hiện chặt chẽ các giải pháp, đặc biệt tập trung thực hiện chăn nuôi an toàn sinh học, tăng cường vệ sinh, tiêu độc khử trùng và kiểm soát vận chuyển để phòng và chống dịch bệnh có hiệu quả. Giá heo hơi xuất chuồng vẫn ở mức bình quân 65-70 ngàn/kg; gà giá 30 đến 50 ngàn đồng/kg và có xu hướng giảm (gà  công nghiệp giá 14 ngàn đồng/kg, gà ta 90 ngàn đồng/kg, gà màu giá 30 ngàn đồng/kg).Số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tại thời điểm tháng 3/2020 như sau: 

Đơn vị tính

Chính thức cùng kỳ

Thực hiện kỳ báo cáo

So sánh cùng kỳ (%)

I. Gia súc​

Con

2.415.919

1.906.042

78,90

1. Trâu

Con

2.974

3.118

104,84

2. Bò

Con

84.108

85.246

101,35

Tr. đó: Bò sữa

Con

640

656

102,50

3. Lợn

Con

2.328.837

1.817.678

78,05

II. Gia cầm

1000 con

22.838,08

23.767,05

104,07

Trong đó: Gà

1000 con

21.191,92

21.772,49

102,74


Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh trong tháng tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Sản lượng thịt trâu dự ước đạt 26,2 tấn, tăng 4,68%; thịt bò dự ước 318,6 tấn, giảm 1,4%; thịt heo 28.328,4 tấn, giảm 20,43%; thịt gia cầm 24.967,2 tấn, giảm 5,39%; sản lượng trứng gia cầm đạt 93.410,7 ngàn quả, giảm 33,93% so cùng kỳ.

3.2. Lâm nghiệp

- Khai thác gỗ và lâm sản: Trong tháng 3 sản lượng gỗ khai thác dự ước đạt 19.412 m3, tăng 1,28% so tháng cùng kỳ; Lũy kế 3 tháng đạt 19.412 m3, tăng 1,28% so cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác dự ước tháng 3 đạt 126,17 ste, tăng 0,65% so tháng cùng kỳ, Lũy kế 3 tháng đạt 126,17 ste, tăng 0,65% so cùng kỳ.

- Công tác PCCCR và quản lý bảo vệ rừng: Tình hình lâm phận trên toàn tỉnh ổn định, công tác quản lý bảo vệ rừng được duy trì và tăng cường; trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ vi phạm lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên rừng; các kế hoạch, dự án, đề án, phương án được thực hiện đúng tiến độ, kế hoạch đề ra.

Trong quí I phát sinh 04 vụ cháy rừng trồng, trong đó nằm ngoài quy hoạch 03 vụ (xảy ra ngày 21/02/2020 tại huyện Long Thành, ngày 24/02/2020 tại huyện Nhơn Trạch, ngày 25/02/2020 tại huyện Long Thành đều là loài cây keo lai) và 01 vụ vào ngày 01/3/2020, tại khu vực núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc (diện tích bị cháy khoảng 10 ha các cây Mum, Le, Lồ ô, trảng cỏ, dây leo, ... mọc xen kẽ trên núi đá).

3.3. Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản quí I/2020 của tỉnh Đồng Nai phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi. Dự ước sản lượng thủy sản tháng 3 đạt 5.920,11 tấn, tăng 2,32% so với cùng kỳ; trong đó cá đạt 5.274,23 tấn; tôm đạt 574,24 tấn; thủy sản khác đạt 71,64 tấn. Lũy kế 3 tháng sản lượng thủy sản đạt 16.397,86 tấn, tăng 3,56% so với cùng kỳ. Trong đó cá đạt 14599,51 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ; Tôm đạt 1.614,2 tấn, tăng 3,95%; thủy sản khai thác đạt 184,15 tấn, giảm 2,14% so với cùng kỳ.

4. Thương mại

Tháng 3 năm 2020 tình hình sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid - 19. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Đồng Nai các ngành dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí và dịch vụ khác tạm ngừng hoạt động đến hết 30/4/2020 để phòng chống dịch bệnh Covid-19, đã làm cho doanh thu của các ngành này giảm so tháng trước. Vì thế hoạt động kinh doanh vận tải hành khách, hàng hóa cũng giảm đáng kể, bên cạnh đó do dịch Covid-19 nên học sinh các cấp nghỉ học kéo dài, người dân hạn chế đi lại làm cho doanh thu vận chuyển hành khách giảm. Tình hình thương mại, vận tải, dịch vụ lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác tháng 3 và quý I năm 2020 như sau:

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 3 năm 2020 ước đạt 14.822,56 tỷ đồng, giảm 0,88% so tháng trước. Dự ước quý I năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 46.329,9 tỷ đồng, tăng 6,49% so cùng kỳ (Quý I năm 2019 tăng 11,74%). Trong đó: Kinh tế nhà nước tăng 2,02%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 6,91%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,82%.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3 dự ước đạt 11.610,96 tỷ đồng, tăng 1,02% so tháng trước và tăng 7,53% so cùng tháng năm trước. Dự ước quý I đạt 35.841,1 tỷ đồng, tăng 8,59% so cùng kỳ. Cụ thể ở một số nhóm ngành như sau:

- Doanh thu dịch vụ l­ưu trú tháng 3 ước đạt 16,82 tỷ đồng, giảm 16,06% so tháng trước, giảm 37,64% so cùng tháng năm trước. Lượt khách phục vụ đạt 168.080 lượt khách, giảm 16,69% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 39,46%; Ngày khách phục vụ đạt 123.968 ngày, giảm 17,14% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 39,96%. Dự ước quý I/2020 đạt 64,85 tỷ đồng, giảm 20,1% so cùng kỳ. Lượt khách phục vụ đạt 654.844 lượt khách, so cùng kỳ giảm 21,65%; Ngày khách phục vụ đạt 481.715 ngày, so cùng kỳ giảm 22,44%.

- Dịch vụ ăn uống tháng 3 ước đạt 1.094,52 tỷ đồng, giảm 11,69% so tháng trước; giảm 16,52% so cùng tháng năm trước. Dự ước quý I ước đạt 3.731,3 tỷ đồng, giảm 5,74% so cùng kỳ.

- Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch tháng 3 ước đạt 4,72 tỷ đồng, giảm 21,13% so tháng trước, giảm 42,9% so cùng kỳ năm trước. Lượt khách du lịch theo tour 7.124 lượt, giảm 21,96% so tháng trước và so với cùng kỳ năm trước giảm 48,12%; Ngày khách du lịch theo tour 15.977 ngày khách, giảm 22,56% so tháng trước và so cùng kỳ năm trước giảm 46,17%. Dự ước quý I đạt 19,47 tỷ đồng, giảm 21,76% so cùng kỳ; Lượt khách du lịch theo tour 30.884 lượt, so cùng kỳ giảm 25,3%; Ngày khách du lịch theo tour 68.120 ngày, giảm 23,77% so cùng kỳ.

Do tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp nên người dân hạn chế đi du lịch và đến các nơi công cộng, dẫn tới lượt khách của các ngành lưu trú, du lịch lữ hành giảm so tháng trước và giảm so cùng kỳ. Mặt khác thực hiện chỉ đạo theo công văn số: 2747/UBND-KGVX của UBND tỉnh Đồng Nai về việc “Tạm ngưng hoạt động các điểm vui chơi, giải trí để phòng, chống dịch bệnh Covid – 19”, nhiều doanh nghiệp, cơ sở hoạt động trong các lĩnh vực này đã đóng cửa làm cho doanh thu giảm mạnh so tháng trước và so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác tháng 3 ước đạt 2.095,55 tỷ đồng, giảm 4,52% so tháng trước; giảm 2,44% so cùng tháng năm trước. Dự ước quý I ước đạt 6.673,16 tỷ đồng, tăng 3,7% so cùng kỳ.

b. Giá cả thị trường

​        ​  Tháng 3 do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh Covid – 19 làm cho giá cả một số mặt hàng, dịch vụ tăng, giảm so tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 giảm 1,01% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 4,22%; tăng 0,88% so tháng 12 năm trước; chỉ số giá bình quân quý I tăng 5,35% so cùng kỳ. Tình hình giá cả các loại hàng hóa tăng, giảm như sau:

​        ​  - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước giảm 1,04%; tăng 9,15% so cùng tháng năm trước; tăng 4,23% so tháng 12 năm trước và tăng 9,44% so bình quân cùng kỳ.

Nhóm hàng lương thực so với tháng trước tăng 0,62%; so với cùng tháng năm trước tăng 1,23% và bình quân cùng kỳ tăng 0,42%. Nguyên nhân tăng là do thu hoạch Vụ Đông Xuân đã kết thúc, sản lượng gạo trong dân không còn nhiều, bên cạnh đó tình hình sản xuất lúa vụ mới gặp nhiều khó khăn do thời tiết nắng nóng và hạn mặn ở nhiều tỉnh phía Nam. Mặt khác do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid - 19 một số người dân mua gạo về tích trữ đã làm cho giá gạo tăng nhẹ.

​        ​  Nhóm hàng thực phẩm giảm 0,51% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 10,94%; so tháng 12 năm trước tăng 3,87% và so bình quân cùng kỳ tăng 11,22%. %. Giá các mặt hàng thực phẩm trong tháng 3 hầu hết là giảm như giá mặt hàng heo hơi giảm làm cho giá các mặt hàng heo thịt so với tháng trước giảm bình quân 3,92%; thịt bò giảm 0,31%; giá các mặt hàng sản phẩm làm từ thịt cũng giảm 1,64%.

Nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 3,06% so với tháng trước; tăng 6,25% so tháng 12 năm trước; tăng 8,88% so cùng tháng năm trước. Nguyên nhân giảm so tháng trước là do giá các mặt hàng lương thực – thực phẩm giảm, bên cạnh đó do ảnh hưởng của dịch bệnh nên các cơ quan chức năng cũng khuyến cáo mọi người hạn chế tụ tập ăn uống, do đó nhu cầu ăn uống trong các nhà hàng, quán ăn của người dân giảm mặc dù các chủ cửa hàng đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá nhằm thu hút khách hàng.

​        ​  - Nhóm may mặc, mũ, nón, giày dép: Chỉ số giá nhóm này so tháng trước tăng 0,01%; so tháng 12 năm trước tăng 0,17%; so cùng tháng năm trước tăng 1,66% và so bình quân cùng kỳ tăng 1,42%.

​        ​  - Nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD: Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD giảm 0,57% so tháng trước, so cùng tháng năm trước tăng 2,02%, so tháng 12 năm trước tăng 1,26% và so bình quân cùng kỳ tăng 4,54%. Chỉ số giá nhóm này giảm chủ yếu giá mặt hàng gas và dầu hỏa giảm mạnh do ảnh hưởng của giá thế giới giảm làm cho giá trong nước giảm như: gas giảm 6,38%; dầu hỏa giảm 12,16%.

​        ​  - Nhóm giao thông: Chỉ số giá nhóm này giảm 5,45% so tháng trước; so cùng tháng năm trước giảm 3,28%; so tháng 12 năm trước giảm 7,51% và bình quân cùng kỳ tăng 2,87%. Tháng 3 giá các mặt hàng xăng, dầu giảm mạnh do ảnh hưởng của giá thế giới giảm. Trong đó chỉ số nhóm nhiên liệu giảm 9,37%. Cụ thể: Xăng A95 từ 19.837 đồng/lít giảm còn 18.028 đồng/lít (-5,75%); Xăng E5 từ 18.867đồng/lít giảm còn 17.158 đồng/lít (-4,99%); Dầu diezen từ 15.633 đồng/lít giảm còn 13.877 đồng/lít (-5,6%).

​        ​  - Các nhóm còn lại có chỉ số giá ổn định, tăng giảm không nhiều.

​        ​  * Giá vàng: Giá vàng trong tháng tiếp tục biến động, giá vàng tăng 1,41% so tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 22,93%; so tháng 12 năm trước tăng 10,56% và bình quân cùng kỳ tăng 21,04%.

​        ​  * Giá Đô la Mỹ: Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng này tăng 0,33% so tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 0,36%; so tháng 12 năm trước tăng 0,61% và so bình quân cùng kỳ không tăng.

​        ​  ​c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 ước đạt 1.599,84 triệu USD, tăng 3,07% so tháng trước. Dự ước kim ngạch xuất khẩu quý I năm 2020 đạt 4.577,68 triệu USD, tăng 3,16% so cùng kỳ. Nguyên nhân xuất khẩu quý I tăng thấp là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 các Doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng nông sản, may mặc, giày da của thị trường Trung Quốc giảm mạnh; mặt khác các ngành dệt may, điện tử do nguồn nguyên liệu sản xuất chủ yếu nhập từ Trung Quốc trong 2 tháng qua, nay tạm ngưng nhập nguyên liệu nên sản xuất giảm sút làm cho xuất khẩu giảm. Tuy nhiên từ đầu tháng 3 tới nay, tình hình thông quan hàng hóa xuất khẩu tại một số cửa khẩu đã được cải thiện đáng kể, phần nào giúp các doanh nghiệp giải tỏa nỗi lo thiếu nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như xuất khẩu sản phẩm sản xuất ra.

Một số ngành hàng xuất khẩu quý I/2020 tăng, giảm so cùng kỳ như sau: Hạt điều ước đạt 36,82 triệu USD (-35,65%); Cà phê ước đạt158,48 triệu USD (+131,51%); Cao su ước đạt 12,44 triệu USD (-14,57%); Sản phẩm gỗ đạt 330,12 triệu USD (+4,96%); Hàng dệt may đạt 457,5 triệu USD (-2,23%); Giày dép các loại ước đạt 1.050,2 triệu USD (+8,84%); Máy vi tính, sản phẩm điện tử đạt 140,76 triệu USD (-2,97%); Máy móc thiết bị ước đạt 409,87 triệu USD (+15,71%); Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 227,64 triệu USD (+12,28%); Xơ, sợi dệt đạt 341,46 triệu USD (-5,96%); Sản phẩm từ chất dẻo ước đạt 77,62 triệu USD (-3,83%); Sản phẩm sắt thép đạt 146,39 triệu USD (-17,36%) so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu tập trung chủ yếu ở các thị trường chủ lực truyền thống như: Hoa Kỳ: ước đạt 418,2 triệu USD, chiếm 27,1%; Nhật Bản: 172,8 triệu USD, chiếm 11,7%; Trung Quốc: 161 triệu USD, chiếm 11,6%… Các thị trường khác cũng có kim ngạch xuất khẩu khá cao như Hong Kong, Hàn Quốc, Bỉ, Đức, Úc, Thái Lan.

- Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 năm 2020 ước đạt 1.307,16 triệu USD, tăng 11,68% so tháng trước. Dự ước quý I đạt 3.476,47 triệu USD, giảm 6,92% so cùng kỳ. Nguyên nhân kim ngạch nhập khẩu quý I năm 2020 giảm là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã làm ảnh hưởng đến tình hình nhập khẩu của các doanh nghiệp, nhất là đối với các mặt hàng xơ, sợi dệt các loại; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Trung Quốc. Cụ thể, một số mặt hàng biến động như sau: Chất dẻo nguyên liệu ước đạt 329,7 triệu USD (-5,49%); Vải các loại 196 triệu USD (-9,64%); Nguyên phụ liệu dệt, may ước đạt 182,48 triệu USD (-14,53%); Sắt thép các loại ước đạt 215,87 triệu USD (-27,83%); Máy móc thiết bị ước đạt 396,1 triệu USD (-3,67%)…

Thị trường nhập khẩu chủ lực trong tháng 3 là: Trung Quốc: ước đạt 217 triệu USD, chiếm 17,6%; Hàn Quốc: ước đạt 209,4 triệu USD, chiếm 15,4%; Đài Loan ước đạt 140,9 triệu USD, chiếm 13%; Nhật Bản ước đạt 106,7 triệu USD, chiếm 10,8%; Các thị trường khác có kim ngạch nhập khẩu khá cao như: Hoa Kỳ, Thái Lan, Brazil, Indonesia… chiếm tỷ trọng từ 2,2% đến 6,8% tổng kim ngạch nhập khẩu.

d. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải, kho bãi quý I năm 2020: Dự ước doanh thu đạt 4.423,43 tỷ đồng, tăng 3,16% so cùng kỳ.

+ Vận tải hành khách dự ước doanh thu quý I đạt 525,64 tỷ đồng, giảm 7,61%; Khối lượng vận chuyển ước đạt 13.775,5 nghìn HK, giảm 10,59%; khối lượng luân chuyển ước đạt 629.304,5 nghìn HK.km, giảm 22,92% so cùng kỳ. Trong đó: Đường bộ đạt 13.449,6 ngàn hành khách vận chuyển, giảm 10,75% và 629.115,9 ngàn hành khách.km luân chuyển, giảm 22,92%; đường sông đạt 325,9 ngàn hành khách vận chuyển, giảm 3,49% và 188,6 ngàn hành khách.km luân chuyển, giảm 8,71%.

+ Vận tải hàng hóa ước doanh thu quý I đạt 2.409,9 tỷ đồng, tăng 3,99% so cùng kỳ. Ước sản lượng vận tải hàng hóa đạt 15.789,5 nghìn tấn vận chuyển và 1.134.013 nghìn tấn - km luân chuyển, so cùng kỳ tăng 2,61% về vận chuyển và 3% về luân chuyển. Trong đó: Đường bộ đạt 15.407,6 ngàn tấn vận chuyển, tăng 2,65% và 1.070.184 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 3,07%; đường sông đạt 381,9 ngàn tấn vận chuyển, tăng 1,08% và 63.828,3 ngàn tấn.km luân chuyển, tăng 1,95%.

+ Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2020 ước đạt 1.487,89 tỷ đồng, tăng 6,14% so cùng kỳ.

e. Bưu chính viễn thông: Dự ước doanh thu quý I đạt 1.616,68 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ, trong đó: doanh thu bưu chính đạt 168,71 tỷ đồng, tăng 8,11%; doanh thu viễn thông đạt 1.447,97 tỷ đồng, tăng 3,54%.

Số máy điện thoại phát triển quý I là 213.438 thuê bao điện thoại, tăng 1,97% so cùng kỳ. Trong đó ước đạt 581 thuê bao cố định, giảm 15,8%; 212.857 thuê bao di động, tăng 2,03%.

Số thuê bao Internet phát triển mới quý I là 26.215 thuê bao, tăng 8,93% so cùng kỳ.

5. Đầu tư phát triển

Tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn giảm sâu so quý trước. Nguyên nhân là do quý I năm 2020 trùng vào dịp Tết Nguyên Đán thời gian nghỉ tết dài ngày ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án đầu tư. Bên cạnh đó là tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn. Dự ước vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai quý I thực hiện 17.620,9 tỷ đồng, giảm 36,56% so với quý 4/2019 và tăng 9,04% so quý I năm 2019. Trong đó, nguồn vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 1.051,36 tỷ đồng, tăng 6,7% so cùng kỳ và đạt 13,7% so kế hoạch. Tình hình thực hiện các nguồn vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương như sau:

Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh quản lý: Ước tháng 03 năm 2020 thực hiện 219,47 tỷ đồng, tăng 4,43% so với tháng 2/2020 và tăng 4,51% so cùng kỳ. Quý I ước thực hiện 639,08 tỷ đồng, tăng 8,18% so cùng kỳ và bằng 13,62% so với kế hoạch năm.

Tình hình thực hiện công trình trọng điểm trong quý I như sau:  Dự án Kè gia cố bờ sông Đồng Nai đoạn từ khu dân cư dọc sông rạch cát phường Thống Nhất đến nhà máy xử lý nước thải số 2 phường Tam Hiệp thành phố Biên Hòa - dự án đối ứng theo cam kết với JICA khi triển khai dự án TNXLNT TP Biên Hòa giai đoạn 1 từ vốn ODA. Vốn kế hoạch năm 2020 là 112 tỷ đồng, ước quý I thực hiện 10,4 tỷ đồng; Dự án Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Biên Hòa giai đoạn 1. Vốn kế hoạch năm 2020 là 21tỷ đồng, ước quý 1/2020 thực hiện 7,1 tỷ đồng; Dự án Nâng cấp đường ĐT 763 đoạn từ Km0+000 đến Km29+500. Vốn kế hoạch năm 2020 là 70 tỷ đồng từ nguồn đấu giá đất. Dự ước quý 1/2020 thực hiện 8,9 tỷ đồng; Dự án đường 319B qua KCN Nhơn Trạch ( Đoạn còn lại): Vốn kế hoạch năm 2020 là 26 tỷ đồng, ước quý 1/2020 thực hiện 2,5 tỷ đồng; Dự án tuyến đường giao thông kết nối cảng Phước An đoạn từ đường 319 giao cắt đường cao tốc Bến Lức – Long Thành. Vốn kế hoạch giao năm 2020 là 38,2 tỷ đồng ước quý 1/2020 thực hiện 5 tỷ đồng...

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước do cấp huyện quản lý: Dự ước tháng 03 năm 2020 thực hiện 109,16 tỷ đồng, tăng 5,5% so với tháng 2/2020 và tăng 4,79% so cùng kỳ. Quý I/2020 ước thực hiện 325,19 tỷ đồng, tăng 4,8% so cùng kỳ  và bằng 14% so kế hoạch năm 2020.

- Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước do cấp xã quản lý: Dự ước tháng 03 năm 2020 thực hiện 34,03 tỷ đồng, tăng 21,4% so tháng 2/2020 và tăng 7,07% so với cùng kỳ. Quý I/2020 ước thực hiện 87,09 tỷ đồng  tăng 3,2% so cùng kỳ và bằng 13,4% so kế hoạch.

6. Thu hút đầu tư – Phát triển doanh nghiệp

- Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đến ngày 18/03/2020 đạt 227,4 triệu USD, bằng 60,9% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp mới 23 dự án với vốn đăng ký 71,4 triệu USD, bằng 46,8% so cùng kỳ; điều chỉnh vốn 25 dự án với vốn bổ sung 156 triệu USD, bằng 70,7% so cùng kỳ.

- Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn đến ngày 18/03/2020 là 5.461,5 tỷ đồng, tăng 197,8% so cùng kỳ. Trong đó: Cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 24 dự án với số vốn là 4.860,2 tỷ đồng, bằng 3,03 lần so cùng kỳ; điều chỉnh tăng vốn 02 dự án với số vốn là 601,3 tỷ đồng, tăng 159,2% so cùng kỳ.

- Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2020, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 6.739,8 tỷ đồng bằng khoảng 70% so với cùng kỳ năm 2019 (9.667 tỷ đồng), trong đó số đăng ký thành lập mới là 733 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 5.598 tỷ đồng và 68 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với vốn đăng ký bổ sung là 1.141,8 tỷ đồng

- Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2020 có 84 doanh nghiệp giải thể với số vốn 1.375 tỷ đồng và 84 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động 257 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa và thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Lý do giải thể và chấm dứt hoạt động và tạm ngừng kinh doanh chủ yếu là do kinh doanh không hiệu quả.

7. Tài chính – Ngân hàng

a. Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước ba tháng đầu năm ước đạt 16.103,3 tỷ đồng, đạt 30,3% dự toán năm và tăng 34,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa là 12.553,3 tỷ đồng, đạt 25% so với dự toán năm và tăng 89% so với cùng kỳ; Thu lĩnh vực xuất nhập khẩu 3.550 tỷ đồng, đạt 20,3% dự toán năm và bằng 88,8% so với cùng kỳ.

Thu nội địa quý I tăng khá so cùng kỳ do Ngành thuế đã triển khai tốt công tác lập bộ, duyệt bố thuế, lập kế hoạch với các cơ sở kinh doanh kê khai nộp thuế theo phương pháp trực tiếp và thống nhất mức thuế kê khai năm 2020; Công tác thu đã được nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả của các bộ phận giao dịch “một cửa”, tổ chức tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính nhờ đó đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cho người nộp thuế… Tuy nhiên do ảnh hưởng chung của dịch Covid 19 nên đã làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực như: xuất khẩu mặt hàng nông sản, may mặc, giày da, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, plastic, linh kiện điện tử… của thị trường Trung Quốc giảm mạnh; nguồn nguyên liệu sản xuất chủ yếu nhập từ Trung Quốc nay tạm ngưng nhập nguyên liệu... đã ảnh hưởng đến thu lĩnh vực xuất nhập khẩu trên địa bàn.

Dự ước tổng chi NSĐP ba tháng đầu năm là 5.471 tỷ đồng, đạt 24,63% so với dự toán và tăng 14,16% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 2.500 tỷ đồng, đạt 33,5% so dự toán và tăng 19,8% so cùng kỳ; Chi thường xuyên 2.971 tỷ đồng, đạt 22% so với dự toán đầu năm và tăng 9,79% so cùng kỳ.

Chi thường xuyên trong ba tháng đầu năm 2020 về cơ bản đã đáp ứng đủ và kịp thời kinh phí cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị, đảm bảo kinh phí thực hiện chi lương, chi trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội, chi hỗ trợ Tết Nguyên đán năm 2020 cho các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đồng thời thực hiện tốt việc tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng kinh phí ngân sách, chi ngân sách đúng tiêu chuẩn, định mức mà tỉnh đã ban hành.

   Riêng về nội chi ngân sách để đảm bảo cho công tác phòng chống dịch hô hấp cấp (Covid 19) trên địa bàn tỉnh, Sở Tài chính đã tham mưu UBND tỉnh thực hiện sử dụng từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh khoảng 150 tỷ đồng để thực hiện cho công tác phòng chống dịch. Nhìn chung chi ngân sách địa phương quý I/2020 các cấp ngân sách vẫn đảm bảo cân đối được nguồn tồn quỹ trong việc điều hành và quản lý ngân sách

b. Hoạt động ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước đến 31/03/2020 đạt 202.945 tỷ đồng, tăng 2,05% so đầu năm. Trong đó: Tiền gửi bằng đồng Việt Nam ước đạt 189.791 tỷ đồng, tăng 2,08% so đầu năm; Tiền gửi bằng ngoại tệ ước đạt 11.983 tỷ đồng, tăng 1,74% so đầu năm.​ 

- Hoạt động tín dụng: Đến 31/03/2020 tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn ước đạt 218.373 tỷ đồng, tăng 2,7% so với đầu năm (trong đó nợ xấu ước chiếm 0,87% trên tổng dư nợ cho vay). Dư nợ cho vay tăng trưởng khá, chủ yếu cho vay đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và một số lĩnh vực ưu tiên. Dư nợ cho vay bao gồm:  Dư nợ ngắn hạn ước đạt 112.693 tỷ đồng, tăng 1,78% so đầu năm. Dư nợ trung, dài hạn ước đạt 103.593 tỷ đồng, tăng 3,58% so đầu năm.

Trước diễn biến phức tạp dịch Covid-19, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Đồng Nai luôn cập nhật kịp thời và triển khai đầy đủ đến các TCTD trên địa bàn các văn bản và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, UBND tỉnh liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo thực hiện tốt công tác thanh toán phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa.

8. Một số tình hình xã hội

a. Văn hóa thông tin

Quý I năm 2020 toàn ngành Văn hóa – thể thao và du lịch Tập trung tuyên truyền cổ động trực quan các nhiệm vụ chính trị như: Kỷ niệm 47 năm ngày ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam; triển lãm tranh cổ động tấm lớn tuyên truyền kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; tuyên truyền hỏi đáp Luật nghĩa vụ Quân sự phục vụ tuyển quân năm 2020; tuyên truyền phòng chống dịch Covid- 19. Trong đó: Thay đổi nội dung và dựng pano cố định 1.876m2; 1.850 lá cờ nội dung, 1.650 lá cờ Tổ quốc; Phát hành 1.000 tờ tranh cổ động và 500 đĩa CD tuyên truyền…

Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Các đơn vị nghệ thuật tăng cường biểu diễn chương trình nghệ thuật Chào mừng kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam phục vụ cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, thực hiện 23 buổi biểu diễn với chủ đề Mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý 2020…

b. Thể dục, thể thao

Các hoạt động văn hóa - thể thao và du lịch trong quý I năm 2020 chủ yếu trong tháng 01. Đầu tháng 02 các Trung tâm huấn luyện và thi đấu TDTT tỉnh, Phòng Văn hóa - thông tin và thể thao các huyện, thành phố ngưng tổ chức các hoạt động lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, văn nghệ quần chúng, chiếu phim lưu động, hoạt động thể thao trên địa bàn theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

c. Giáo dục - Đào tạo

Trước những diễn biến mới của dịch Covid-2019. UBND tỉnh  ban hành văn bản về việc chấp thuận cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học, THCS trên địa bàn tỉnh tiếp tục kéo dài thời gian tạm nghỉ học để phòng tránh dịch Covid-19

, thời gian nghỉ học sẽ tiếp tục kéo dài đến hết thứ bảy, ngày 04/4/2020. Trong thời gian tiếp tục tạm nghỉ học, Sở GD-ĐT chỉ đạo các trường hỗ trợ học sinh ôn tập, tăng cường dạy học qua internet, trên truyền hình. Lịch phát sóng giảng dạy qua đài Phát thanh truyền hình Đồng Nai từ ngày 16/3 – 04/4/2020 theo thông báo số 751/TB-SGDĐT ngày 12/3/2020 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai.

d. Y tế

Tính đến ngày 20/03/2020, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai chưa ghi nhận trường hợp nhiễm Covid-19. Trong tổng số 14 ca nghi ngờ, có 12 ca đã có kết quả âm tính, còn 2 trường hợp đang được cách ly, theo dõi sức khỏe tại các cơ sở y tế. Ngoài ra, có 32 trường hợp đang được cách ly tập trung, 230 trường hợp khác đang được cách ly tại nhà/nơi lưu trú. Nhìn chung công tác phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đang được các cấp, các ngành chỉ đạo quyết liệt và được người dân tham gia hưởng ứng tích cực.

Một số dịch bệnh phát sinh trong tháng quý I như sau:             

- Sốt xuất huyết: Có 1.472 trường hợp, giảm 22,81% so với cùng kỳ (1.907 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Sốt rét: Cộng dồn đến tháng 3 ghi nhận có 02 trường hợp; giảm 03 trường hợp so với cùng kỳ (05 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Sởi: Cộng dồn đến tháng 3 ghi nhận có 188 trường hợp mắc, giảm 73,86% so với cùng kỳ (719 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Hội chứng tay chân miệng: Cộng dồn đến tháng 3 có 704 trường hợp, tăng 20,34% so với cùng kỳ (585 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp tử vong.

​        ​  ​- Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong quý I/2020 ghi nhận 168 trường hợp mắc mới HIV. Ghi nhận 02 trường hợp nhiễm HIV/AIDS tử vong. Tính đến tháng 3/2020, cộng dồn toàn tỉnh có 4.710 trường hợp mắc HIV/AIDS, duy trì tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư trên địa bàn toàn tỉnh được khống chế <0,3%.

- Phòng chống sốt rét: Cộng dồn đến tháng 3/2020 ghi nhận có 02 trường hợp; giảm 03 trường hợp so với cùng kỳ năm 2019 (05 trường hợp). Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh tử vong.

- Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi: Theo cân nặng: 8%; Theo chiều cao: <23%.

- Tiêm chủng mở rộng: Số trẻ em tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccin tính đến tháng 3/202 có 6.323 cháu, tăng 1.658 cháu, đạt 13,32% kế hoạch và tăng 35,54% so cùng kỳ.

- Khám chữa bệnh: Tổng số lượt khám bệnh trong quý I là 1.831.501 trường hợp, cấp cứu: 127.814 trường hợp, nhập viện: 118.839 trường hợp, tử vong do bệnh tật: 59 trường hợp, tử vong do tai nạn giao thông: 38 trường hợp.

e. Giải quyết việc làm

Trong quý I năm 2020, giải quyết việc làm cho 18.703 lượt người, đạt 23,38% kế hoạch năm, tăng 0,23% so với cùng kỳ, trong đó: Các doanh nghiệp tuyển dụng 12.782 lượt người; chương trình cho vay hộ nghèo để giải quyết việc làm 781 người; chương trình đào tạo nghề lao động nông thôn 503 người; các chương trình khác 2.101 người.

Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã tổ chức 02 Sàn Giao dịch việc làm với sự tham gia của 50 lượt doanh nghiệp và 600 người lao động, trong đó: Số lượt người được tư vấn là 468 lượt; số hồ sơ các doanh nghiệp tiếp nhận tại sàn là 351 hồ sơ.

f. Đào tạo nghề

Trong quý I năm 2020, Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới đào tạo cho 13.511 người, đạt 17,43% kế hoạch năm, giảm 0,31% so cùng kỳ.

Có 9.142 người tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề, đạt 13,44% kế hoạch, tăng 0,42% so cùng kỳ.

Trong quý I toàn tỉnh triển khai tuyển sinh đào tạo nghề lao động nông thôn cho 453 người đạt 19,36% kế hoạch, tăng 1,12% so cùng kỳ, có 406 người đã tốt nghiệp, có 367 người có việc làm, chiếm 90,5%.

CỤC THỐNG KÊ ĐỒNG NAI

INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​