Thứ 6 - 26/02/2016
Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ, kịp thời cho cơ quan Thống kê là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp
Tích cực tham gia Điều tra Doanh nghiệp năm 2020 là góp phần xây dựng và phát triển đất nước
Từ năm 2020, Doanh nghiệp cung cấp thông tin Thống kê trên trang thông tin điện tử điều tra doanh nghiệp tại địa chỉ http://thongkedoanhnghiep.gso.gov.vn
Thông cáo báo chí tình hình KT-XH trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2020
 

​      Thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2020 trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai: Bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế trên địa bàn cũng đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức rất lớn.

Đại Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng tiêu cực đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội...

Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất; thị trường xuất khẩu giảm sâu, các đơn hàng từ Trung Quốc và một số thị trường truyền thống bị ngưng trệ, một số doanh nghiệp ngừng sản xuất, việc làm thiếu, thất nghiệp tăng lên…

Hoạt động khách sạn, nhà hàng ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí tạm ngưng hoạt động một thời gian dài nên doanh thu ngành Thương mại dịch vụ, du lịch trên địa bàn giảm mạnh,..

Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung quyết liệt của cả hệ thống chính trị và chung sức, đồng lòng, của toàn Đảng, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp thực hiện các Chỉ thị của Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của Chính phủ và đẩy mạnh thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 vừa ổn định sản xuất kinh doanh, duy trì phát triển kinh tế, vừa tập trung phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì, phục hồi sản xuất, vượt qua khó khăn, thách thức; Các hoạt động văn hóa, xã hội và chính sách an sinh xã hội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện và đạt được kết quả quan trọng, đời sống dân cư được quan tâm, cải thiện và nâng cao. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

I. Tình hình kinh tế

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm 2020 (giá so sánh 2010) ước đạt 210.537,32 tỷ đồng, tăng 4,44% so với cùng kỳ (không đạt mục tiêu NQ tỉnh ủy đề ra MTNQ 8-9%) đây là năm có mức tăng GRDP thấp nhất giai đoạn (2011-2020). Trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,65%; Công nghiệp - xây dựng tăng 6,32%; Dịch vụ tăng 1,36% và Thuế sản phẩm tăng 1,32%. Tuy là mức tăng thấp so với các năm trong giai đoạn 2015-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 ảnh hưởng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới thì đây là một thành công lớn Đồng Nai trong việc phòng chống dịch bệnh, khôi phục và phát triển kinh tế.

Trong mức tăng chung 4,44% thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,65%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,32%, đóng góp 2,6 điểm phần trăm; Khu vực dịch vụ tăng 1,36%, đóng góp 1,02 điểm phần trăm; Thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 1,32%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong những tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại, dịch vụ, do đó giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ đạt rất thấp  (tăng 1,36%), đây là mức tăng thấp nhất từ nhiều năm qua, nên đã ảnh hưởng lớn đến sự đóng góp vào GRDP trên địa bàn tỉnh.

Cơ cấu nền kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,9%; công nghiệp và xây dựng chiếm 59,17%; dịch vụ chiếm 22,25%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,69%.

GRDP bình quân đầu người năm 2020 (theo giá hiện hành) dự ước đạt 115,38 triệu đồng, tăng 4,53% so năm trước. GRDP bình quân đầu người năm 2020 theo USD dự ước đạt 4.995 USD, tăng 1,44% so năm trước, chưa đạt mục tiêu đề ra (Nghị quyết đề ra 5.300 USD).

2. Sản xuất công nghiệp

- Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2020 tăng 5,97% so cùng kỳ. Đây là năm chỉ số sản xuất công nghiệp thấp nhất trong giai  đoạn (2011-2020). Trong đó: ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 5,7%; ngành công nghiệp chế biến tăng 6,45%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 1,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 12,04%. Sản xuất công nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 nên tốc độ tăng công nghiệp năm 2020 đạt thấp so cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,45% và là mức tăng thấp nhất giai đoạn năm 2016-2020. Tuy nhiên do dịch bệnh được kiểm soát tốt, các lĩnh vực của nền kinh tế đang bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới, sản xuất công nghiệp đã có sự khởi sắc. Một số ngành công nghiệp tăng như sau: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,11%; Ngành dệt tăng 2,75%; Ngành sản xuất trang phục tăng 2,64% (Đây là 3 ngành công nghiệp chủ lực tăng thấp so với các năm trước); Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,87%, Ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,73%, Ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,49%, Ngành sản xuất thiết bị điện tăng 2,45%.v.v.. Một số ngành sản xuất có chỉ số giảm như: Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng kim loại giảm 4,03%; sản xuất thiết bị điện tử và sản phẩm quang học giảm 4,39%; Sản xuất gường, tủ, bàn ghế giảm 5,71%...

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2020 tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (năm 2019 là 8,8%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2020 giảm 11,56% so với cùng thời điểm năm trước (Năm 2019 tăng 19,9% so cùng).

3. Hoạt động xây dựng

Dự ước năm 2020 giá trị xây lắp trên địa bàn (giá hiện hành) đạt 47.707,47 tỷ đồng, tăng 9,21% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước đạt 53,6 tỷ đồng, tăng 8,2%; doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 32.006,73 tỷ đồng, tăng 9,46%; doanh nghiệp có vốn ĐTNN đạt 3.767,95 tỷ đồng, tăng 7,55%; loại hình khác đạt 11.879,18 tỷ đồng, tăng 9,09%. Tính theo giá so sánh 2010 giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt 32.929 tỷ đồng, tăng 7,13% so cùng kỳ.

4. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 cơ bản thuận lợi, dịch tả heo Châu phi cơ bản được khống chế, có dấu hiệu phục hồi chăn nuôi heo, thời tiết ít bị ảnh hưởng, các biện pháp thúc đẩy sản xuất được các ngành chức năng và địa phương đầy mạnh thực hiện, do đó ngành nông lâm nghiệp và thủy sản dự ước tăng trưởng khá so cùng kỳ, nói chung nông lâm nghiệp và thủy sản là ngành ít chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19. Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (Theo giá so sánh 2010) năm 2020 đạt 43.714,39 tỷ đồng, tăng 3,69% so cùng kỳ. Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 39.175,90 tỷ đồng, tăng 3,73% (trồng trọt tăng 1,63%; chăn nuôi tăng 5,34%; dịch vụ tăng 0,94%); Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 2.237,26 tỷ đồng, tăng 2,33%; Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 2.301,23 tỷ đồng, tăng 4,37% so cùng kỳ.

a. Lĩnh vực trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/12/2020 đạt 148.527,59 ha, giảm 6.992,76 ha (- 4,5%) so cùng kỳ, nguyên nhân giảm là do diện tích bắp có hạt năng suất thấp nên người dân chuyển sang cây bắp lấy thân làm thức ăn cho gia súc, một số diện tích chuyển sang trồng nho lấy lá tại TP. Long Khánh, Trồng cây trầm ở Huyện Tân Phú và diện tích bàn giao cho Sân Bay Long Thành và một số dự an đo thị tại Nhơn Trạch, Thống Nhất và Trảng Bom. Năm 2020 diện tích nhóm cây lương thực là 91.915 ha, chiếm 61,88%, giảm 6.442 ha (-6,55%), cây củ có bột đạt 17.475 ha, chiếm 11,77%, tăng 1.090 ha (+6,65%) Nhóm cây thuốc lá, thuốc lào là 971 ha, chiếm 0,65%, tăng 232 ha (+31,31%); Nhóm cây có hạt chứa dầu là 1.841 ha, chiếm 1,24%, tăng 99 ha (+31,31%); Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa là 21.653 ha, chiếm 14,58%, tăng 870 ha (+4,19%); Nhóm cây hàng năm khác là 9.063 ha, chiếm 5,96% so với tổng diện tích cả năm, tăng 376 ha (+4,32%).

Năng suất lúa đạt 57,5 tạ/ha (+2,23%); bắp đạt 80,06 tạ/ha (+6,26%); khoai lang đạt 145,37 tạ/ha (+10,05%); mía đạt 732,4 tạ/ha (-5,74%); đậu tương đạt 17,33 tạ/ha (+9,51%); đậu phộng đạt 26,14 tạ/ha (-2,95%) so cùng kỳ.

Sản lượng lúa đạt 319.995,32 tấn (-3,18%); bắp đạt 290.369 tấn (-2,69%); khoai lang đạt 4.143 tấn (-31,81%); mía đạt 410.874 tấn (-40,1%); rau các loại đạt 294.619 tấn (+10,07%); đậu các loại đạt 16.881 tấn (+46,96%) so cùng kỳ.

Tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 169.707,35 ha, giảm 0,1%, (-177,5 ha) so cùng kỳ. Trong đó diện tích cây ăn quả đạt 69.941,38 ha, tăng 9,76%, cây công nghiệp lâu năm đạt 98.410,66 ha, giảm 5,54% so cùng kỳ. Trong những năm gần đây diện tích cây ăn quả trên địa bàn đều có mức tăng cao, đặc biệt là các loại cây có múi, nguyên nhân tăng là do người dân dựa theo tín hiệu của giá bán tại thời điểm, hoặc theo phong trào, đua nhau trồng chuối, bưởi da xanh, sầu riêng…làm ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm “sốt” giảm giá, ngược lại diện tích điều, hồ tiêu, cao su và cà fê, đây là các loại cây trồng trọng điểm trên địa bàn Đồng Nai chiếm tỷ lệ lớn có xu hướng giảm dần…

Năng suất một số cây trọng điểm tăng so cùng kỳ như: Năng suất xoài đạt 93,5 tạ/ha (+2,12%); chuối đạt 138,1 tạ/ha (+0,97%); sầu riêng đạt 96,94 tạ/ha (+0,07%); mít đạt 142,25 tạ/ha (-1,22%); bưởi đạt 107,71 tạ/ha (+0,85%); chôm chôm đạt 163,86 tạ/ha (+1,34%); điều đạt 13,3 tạ/ha (+4,82%); cao su đạt 16,59 tạ/ha (+6,46%) và cà phê đạt 24,45 tạ/ha (+0,17%) so cùng kỳ. Một số cây trồng năng suất giảm như sau: Măng cụt đạt  56,42 tạ/ha (-5,08%); nhãn đạt 62,55 tạ/ha (0,52%); tiêu đạt 24,08 ta/ha (-0,51%)…

Sản lượng xoài đạt 98.843,45 tấn, tăng 7,74%; chuối đạt 129.791,2 tấn, tăng 8,5%; bưởi đạt 68.865,63 tấn, tăng 14,96%; chôm chôm đạt 162.181,95 tấn, tăng 2,5%; điều đạt 41.803,96 tấn, tăng 0,11%; tiêu đạt 30.061,05 tấn, giảm 2,7%; cao su đạt  54.964,51 tấn, tăng 6,6% và cà phê đạt 20.368,17 tấn, giảm 14,15% so cùng kỳ.

b. Hoạt động chăn nuôi

Sau thời gian ảnh hưởng nặng của dịch tả heo Châu Phi, đến nay cơ bản được khống chế, giá tiêu thụ heo tăng cao nhưng giá heo giống cao nên việc đầu tư giống phát triển chăn nuôi ở hộ cá thể khó khăn. Tuy nhiên các doanh nghiệp và cơ sở chăn nuôi có quy mô lớn đã chủ động đầu tư phát triển đàn heo, làm cho tổng đàn heo tăng so cùng kỳ.

Tổng đàn gia súc hiện có là 1.978.046 con, tăng 70.137 con (+3,68%) so cùng kỳ. Trong đó trâu đạt 3.957 con, tăng 49 con (+1,25%); bò đạt 87.215 con, tăng 829 con (+0,96%); heo đạt 1.886.874 con (không tính heo con chưa tách mẹ), tăng 3,81% tương đương tăng 64.687 con. Nguyên nhân tăng là hầu hết các đơn vị chăn nuôi có qui mô lớn có đủ điều kiện an toàn đảm bảo công tác tái đàn, đảm bảo con giống cho các hộ có nhu cầu nuôi trở lại.

Tổng đàn gia cầm hiện có là 24.270,49 ngàn con, tăng 3,8% so cùng kỳ, trong đó gà đạt 21.849,66 ngàn con, tăng 684 ngàn con (+3,32%). Nguyên nhân đàn gà tăng mạnh là do thị trường tiêu thụ ổn định, dịch bệnh không phát sinh, nên các trang trại đã chủ động tăng đàn.

- Sản lượng sản phẩm:  Dự ước sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn tỉnh năm 2020 sản lượng thịt trâu ước đạt 234,9 tấn, tăng 0,86%; thịt bò 4.377,24 tấn, tăng 2,36%; thịt heo 391.842,35 tấn, tăng 0,9%; thịt gia cầm đạt 172.109,14 tấn, tăng 5,23%; sản lượng trứng gia cầm đạt 1.132.317,7 ngàn quả, tăng 2,29% so với cùng kỳ.

5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải đang có xu hướng tích cực ở những tháng cuối năm. Tuy nhiên, dự ước cả năm doanh thu hàng hóa dịch vụ, vận tải, lưu trú, ăn uống và du lịch, lữ hành đạt thấp, số lượng khách và ngày khách phụ vụ giảm so cùng kỳ.

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa  năm 2020 đạt 143.029,35 tỷ đồng, tăng 10,77% so cùng kỳ (thấp hơn mức tăng năm 2019), trong đó nhóm lương thực, thực phẩm đạt 35.297,45 tỷ đồng, tăng 16,79%; hàng may mặc đạt 5.717,1 tỷ đồng, tăng 5,31%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 19.606,33 tỷ đồng, tăng 8,39%; vàng bạc đá quý đạt 3.994 tỷ đồng, tăng 16,49%; đồ dùng dụng cụ gia đình đạt 15.782,57 tỷ đồng, tăng 4,62% so cùng kỳ.

Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành. Dự ước năm 2020 ước đạt 15.623,57 tỷ đồng, giảm 4,98% so cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, nhiều đơn vị, cơ sở kinh doanh ngành dịch vụ ăn uống phải tạm ngưng hoạt động trong một thời gian dài trong thời gian phòng chống dịch Covid-19.

Doanh thu hoạt động dịch vụ tháng: Dự ước năm 2020 đạt 24.683 tỷ đồng, giảm 6,17% so cùng kỳ. Các nhóm hàng trong tháng đều có mức tăng từ trên 2% đến trên 4%. Trong đó nhóm hàng dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình là nhóm có mức tăng cao nhất với 4,78%.

b. Giá cả thị trường

* Chỉ số giá tiêu dùng năm 2020 so cùng kỳ tăng 3,27%. Có 2/11 nhóm hàng có chỉ số tăng cao hơn bình quân chung, đó là nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống (+10,52%) và giáo dục (+4,76%), các ngành còn lại tăng thấp và giảm so cùng kỳ.

* Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ: Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới. Giá vàng giảm do các nhà đầu tư bán ra chốt lãi sau thời gian giá vàng tăng mạnh; Chỉ số giá vàng trong tháng 12 giảm 0,06% so tháng trước; tăng 30,05% so với cùng tháng năm trước và tăng 26,41% so bình quân cùng kỳ.

Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12 giảm 0,13% so tháng trước; tăng 1% so tháng 12 năm trước và tăng 0,76% so bình quân cùng kỳ.

c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới ảnh hưởng lướn đến hoạt động xuất nhập khẩu do thị trường xuất nhập khẩu giảm, nhập khẩu nguyên liệu sản xuất giảm, các thị trường lớn thu hẹp, hoạt động xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giảm so cùng kỳ; tuy nhiên cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 thực hiện xuất siêu 4.304,8 triệu USD, trong đó chủ yếu vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc xuất siêu.

Kim ngạch xuất khẩu: Ước cả năm 2020 đạt 18.733,71 triệu USD, giảm 3,65% so cùng kỳ, trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 456,64 triệu USD, giảm 8,21%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 4.320,26 triệu USD, giảm 5,79%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13.956,81 triệu USD, giảm 2,81% so cùng kỳ.

Kim ngạch nhập khẩu Dự ước cả năm 2020 đạt 14.428,94 triệu USD, giảm 8,78% so cùng kỳ. trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 307,17 triệu USD, giảm 12,28%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 3.652,08 triệu USD, giảm 11,08%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10.469,69 triệu USD, giảm 7,84% so cùng kỳ. Cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 thực hiện xuất siêu 4.304,8 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất siêu 817,65 USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 3.487,15 USD. Như vậy mặc dù gặp khó khăn nhưng Đồng Nai vẫn xuất siêu đạt cao.

d. Hoạt động giao thông vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải năm 2020 đạt 17.138,91 tỷ đồng, giảm 1,47% so cùng kỳ, trong đó doanh thu vận tải hành khách đạt 2.413,7 tỷ đồng, giảm 7,24%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 9.740,6 tỷ đồng, giảm 0,65%.

- Sản lượng vận chuyển hành khách năm 2020 đạt 62.347,3 nghìn HK, giảm 8,72%; luân chuyển dự tính đạt 3.529.718 nghìn HK.Km, giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng vận chuyển hàng hóa đạt 54.332 nghìn tấn, giảm 4,34%; luân chuyển dự ước đạt 4.371.138,4 nghìn tấn.Km giảm 2,07% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách và hàng hóa của tất cả các ngành đường đều giảm do dịch Covid-19, trong đó đường bộ là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với mức giảm 7,24% về lượng hành khách và giảm 0,62% về lượng hàng hóa vận chuyển.

6. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2020 tăng 13,12% so với cùng kỳ năm 2019, đây kết quả đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã được kiểm soát tốt tại Việt Nam. 

Dự ước vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2020 thực hiện 104.450,3 tỷ đồng, tăng 13,12% so năm 2019. Trong đó vốn đầu tư từ nguồn NSNN đạt 7.720,12 tỷ đồng, tăng 15,76%, vốn trái phiếu chính phủ đạt 6.705 tỳ đồng tăng 5,58 lần (đây là vốn dự án Sân bay Long Thành). Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 43.105,7 tỷ đồng, tăng 9,03% và vốn đầu tư trực tiếp nước nogài đạt 46.363,53 tỳ đồng, tăng 9,33% so cùng kỳ.

7. Thu hút đầu tư

- Tổng vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) dự ước đến ngày 20/12/2020 đạt 1.301,7 triệu USD, bằng 56,4% so cùng kỳ, đạt 130,17% so kế hoạch năm. Trong đó cấp mới 72 dự án với vốn đăng ký 412,13 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn 123 dự án với vốn bổ sung 889,58 triệu USD.

- Tổng vốn đầu tư trong nước năm 2020 đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng vốn ước là 29.000 tỷ đồng, bằng 85% so cùng kỳ.

- Doanh nghiệp ngoài nhà nước tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2020, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 86.842,8 tỷ đồng, tăng 79% so với cùng kỳ, trong đó số đăng ký thành lập mới là 3.835 doanh nghiệp, tăng 0,52% so cùng kỳ, với số vốn đăng ký là 72.365,4 tỷ đồng, tăng 88,48% và 518 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với vốn đăng ký bổ sung là 14.477,4 tỷ đồng.

- Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2020 có 349 doanh nghiệp giải thể với số vốn 5.515,6 tỷ đồng và 360 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh chấm dứt hoạt động; 679 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa và thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Lý do giải thể và chấm dứt hoạt động và tạm ngừng kinh doanh chủ yếu là do kinh doanh không hiệu quả.

II. Một số tình hình xã hội

Do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, một số hoạt động văn hóa, thể thao không tổ chức hoặc lùi ngày tổ chức; hoạt động thư viện có nhiều đổi mới nhằm duy trì việc cung cấp thông tin cho người dân.

- Ngành văn hóa tập trung công tác tuyên truyền chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; Chào mừng thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh,​ nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch Covid- 19 trên địa bàn tỉnh.

- Hoạt động thể dục thể thao: Tham gia thi đấu 4 giải thể thao quốc tế, đạt 11 huy chương các loại; Tham gia thi đấu 77 giải quốc gia, đạt 422 huy chương các loại (131HCV, 118HCB, 173HCĐ); Thi đấu 07 giải khu vực, cụm, mở rộng, đạt 27 huy chương các loại (06HCV, 08HCB, 13HCĐ)…

 Hoạt động Giáo dục: Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2020 đảm bảo an toàn, đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra. Kết quả có 26.481/26.997 (không tính thí sinh tự do) tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 98,09%; Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 phổ thông năm học 2020-2021 đạt tỷ lệ 76,01%.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2020-2021 trên địa bàn tỉnh có hơn 750 ngàn học sinh của hơn 800 cơ sở giáo dục đã chính thức khai giảng, bước vào năm học mới 2020-2021. Đầu năm học có khoảng 757.411 học sinh các cấp học mầm non và phổ thông, tăng 6,9% so với đầu năm học 2019 -2020

Hoạt động Y tế: Hoạt động y tế bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho người dân đạt nhiều kết quả tích cực. Ngành y tế Đồng Nai đã quan tâm và thực hiện tốt chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, tỉnh ủy, UBND tỉnh về phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Chủ trì tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh nguy hiểm; thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, khám và điều trị bệnh, y tế dự phòng, vv...

Năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 6.192 trường hợp bị số suất huyết, giảm 68,03% so với cùng kỳ; 140 trường hợp bệnh sởi, giảm 92,29% so với cùng kỳ và 7.203 trường hợp bệnh tay chân miệng, giảm 24,1% so với cùng kỳ, không ghi nhận trường hợp tử vong

Năm 2020 đã thực hiện 9.626 lượt kiểm tra, thanh tra, trong đó 90% cơ sở đạt điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm.

Tính đến tháng 12/2020 toàn tỉnh có 5.497 trường hợp mắc HIV/AIDS (tỷ lệ/dân số: 0,17%), duy trì tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư trên địa bàn toàn tỉnh được khống chế <0,3%.

Giải quyết việc làm: Năm 2020 toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 81.847 lượt người, đạt 102,31% kế hoạch, trong đó: Thông qua các doanh nghiệp tuyển dụng 52.411 lượt lao động; Lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội giải quyết việc làm: 29.436 lượt người, Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 1.753  người; Cho vay vốn giải quyết việc làm: 16.707 lao động; Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: 251 lao động; Các chương trình khác 8.611 lượt người

Đào tạo nghề: Toàn tỉnh tuyển mới 78.105 người, đạt 100,78% so với kế hoạch năm (trong đó tuyển mới Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 2.457 người), tỷ lệ lao động tuyển sinh đào tạo nghề từ trung cấp trở lên trên tổng số người được tuyển sinh trong năm 2020 đạt 25,18%. Có 68.249 người tốt nghiệp các khóa đào tạo, đạt 100,37% so với kế hoạch năm

Công tác giảm nghèo: Toàn tỉnh cho vay tổng số hộ vay là 2.928 hộ so cùng kỳ đạt 90,45%. Trong đó số hộ nghèo vay 241 hộ với số tiền 9.303 triệu đồng; hộ cận nghèo vay 794 hộ với số tiền 34.387 triệu đồng và hộ thoát nghèo vay 1.893 hộ với số tiền 79.116 triệu đồng.

Dân số: Ước tính dân số trung bình năm 2020 của tỉnh Đồng Nai là 3.177.401 người trong đó nam là: 1.406.727 người, chiếm 44,27%; nữ là: 1.770.674 người, chiếm 55,73%. Chia theo khu vực: thành thị 1.613.109 người, chiếm 50,77% nông thôn: 1.564.292 người, chiếm 49,23%.

Lao động: Năm 2020 dự ước toàn tỉnh có 1.858.800 người lao động từ 15 tuổi trở lên, tăng 2,41% so cùng kỳ. Trong đó: Nam tăng 1,55%; nữ tăng 3,44%. Trong đó đang làm việc ngành công nghiệp – xây dựng là 760.400 người, tăng 3,78%; lao động ngành dịch vụ là 720.000 người, tăng 3,31% so cùng kỳ. Đây là 2 ngành có nhu cầu sử dụng nhiều lao động, đồng nghĩa việc giảm lực lượng lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (giảm 1,57%).

Trên đây là một số nội dung chủ yếu về tình hình kinh tế - xã hội năm 2020 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Cục Thống kê xin được thông báo.

​CỤC THỐNG KÊ ĐỒNG NAI 

INFOGRAPHICS

Xem thêm

Liên kết website

Số lượt truy cập

CỤC THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Đường Đồng khởi, phường Tân Hiệp, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​