Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 12 và 12 tháng năm 2025

Tình hình kinh tế – xã hội năm 2025 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng; căng thẳng thương mại, xung đột quân sự và bất ổn chính trị tại một số quốc gia, khu vực còn kéo dài; tác động của biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng rõ nét.

Ở trong nước, năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025; đồng thời là năm triển khai nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng nhằm tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển 2026-2030, như thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; nhiều dự án trọng điểm được đồng loạt khởi công, góp phần tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Đối với tỉnh Đồng Nai, bên cạnh việc triển khai kịp thời các chính sách quan trọng của Trung ương, Đảng bộ và chính quyền tỉnh luôn sát cánh, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp và người dân, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với quyết tâm cao, hướng tới mục tiêu “giữ vững tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội". Trong năm, tình hình kinh tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển tích cực; nhiều doanh nghiệp ký kết được các đơn hàng sản xuất mới với khối lượng lớn, một số doanh nghiệp đã có hợp đồng sản xuất kéo dài đến hết năm và sang năm sau; thị trường và giá xuất khẩu hàng hóa thuận lợi hơn so với năm trước. Các hoạt động văn hóa - xã hội và chính sách an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng; đời sống dân cư từng bước được cải thiện. Kết quả đạt được trong các ngành, lĩnh vực năm 2025 cụ thể như sau:

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

Theo số liệu của Cục Thống kê ước tính công bố (thời điểm ngày 01/12/2025), Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh quý IV năm 2025 (theo giá so sánh 2010) tăng 10,73% so với cùng kỳ năm trước, xếp thứ tư cả nước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,49%, đóng góp 0,20% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,17%, đóng góp 6,91%; khu vực dịch vụ tăng 10,57%, đóng góp 2,89%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 10,78%, đóng góp 0,73%.

Năm 2025, GRDP toàn tỉnh tăng 9,63% so với năm trước, vượt 1,13 điểm phần trăm so với chỉ tiêu Nghị quyết số 226 của Chính phủ giao (8,5%) và là mức vượt cao nhất cả nước. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,22%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,52%, tiếp tục là khu vực đóng góp lớn nhất, giữ vai trò chủ lực trong tăng trưởng, đóng góp 6,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,39%, đóng góp 2,53 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,67%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,22%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; trong đó, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 tăng 3,15% so với năm trước; ngành lâm nghiệp tăng 3,38%; ngành thủy sản tăng 4,84%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các khu vực kinh tế còn lại, khu vực này vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định nguồn cung lương thực, thực phẩm, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và cân bằng cơ cấu kinh tế của tỉnh.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,52%, đóng góp 6,06 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; trong đó, công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, tăng 10,42%, đóng góp 4,95 điểm phần trăm. Một số ngành công nghiệp chủ yếu tăng khá, như: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,19%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,41%. Đặc biệt, việc Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 chính thức vận hành từ quý III/2025 đã bổ sung công suất cho hệ thống điện quốc gia, qua đó tạo lực đẩy mới cho sản xuất công nghiệp. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,21%.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ lực, đạt mức tăng 10,19% so với cùng kỳ; trong đó, giá trị tăng thêm tập trung ở một số ngành có tỷ trọng lớn như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,11%; sản xuất trang phục tăng 10,17%. Kết quả này phản ánh hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục khởi sắc, nhiều doanh nghiệp đã tìm kiếm được đơn hàng mới, mở rộng tiêu thụ sản phẩm và từng bước mở rộng thị trường quốc tế.

Các hoạt động thương mại, du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, qua đó hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất công nghiệp và lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 tăng 9,39%, đóng góp 2,53 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn đạt mức tăng khá so với cùng kỳ, như: vận tải tăng 18,4%, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và xuất khẩu; lưu trú và ăn uống tăng 10,62%, gắn với phục hồi du lịch và tiêu dùng; kinh doanh bất động sản tăng 8,48%; bán buôn, bán lẻ tăng 7,29%; dịch vụ khác tăng 11,74%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,13%; khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 54,97% (trong đó công nghiệp chiếm 50,35%, tiếp tục giữ tỷ trọng chủ đạo); khu vực dịch vụ chiếm 26,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,48% trong tổng số. Cơ cấu tương ứng của năm 2024 lần lượt là 12,31%; 54,50%; 26,61%; 6,57%.

Quy mô GRDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 677.932,31 tỷ đồng, tăng 84.468 tỷ đồng (tương đương 14,23%) so với năm trước; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 82.222 tỷ đồng; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 372.689,06 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quy mô GRDP; khu vực dịch vụ đạt 179.102,87 tỷ đồng; thuế sản phẩm đạt 43.918,37 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 150,86 triệu đồng/người.

2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

a) Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh ước năm 2025 đạt 96.444,78 tỷ đồng , tăng 31,01% so cùng kỳ. Trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 76.995,53 tỷ đồng, tăng 52,12% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu nội địa ước đạt 73.662,13 tỷ đồng, tăng 41,86%. Một số khoản thu chủ yếu như sau: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 6.098 tỷ đồng, tăng 23,15%; Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17.318,63 tỷ đồng, tăng 11,42%; Thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 11.577,15 tỷ đồng, tăng 28,71%; Thuế thu nhập cá nhân 9.591,09 tỷ đồng, tăng 23,81%; Các khoản thu về nhà, đất 18.653,1 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ.

- Thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu cả năm ước đạt 2.880,75 tỷ đồng, trong đó thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 22.330 tỷ đồng, tăng 3,38% so cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước ước thực hiện năm 2025 đạt 68.877,63 tỷ đồng , tăng 29,27% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 29.278,12 tỷ đồng, tăng 44,86% (chủ yếu chi đầu tư cho các dự án theo các lĩnh vực 28.592,31 tỷ đồng, tăng 46,13%); Chi thường xuyên đạt 36.573,48 tỷ đồng, tăng 20% (Chi an ninh và trật tự an toàn xã hội đạt 3.425,87 tỷ đồng, tăng 25,88%; Chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề 12.316,61 tỷ đồng, tăng 12,16%; Chi hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 9.210,68 tỷ đồng, tăng 65,18%; Chi đảm bảo xã hội 2.697,22 tỷ đồng, tăng 28,8%); Chi trả nợ lãi đạt 5.719 tỷ đồng, tăng 83,89% so với cùng kỳ.

b) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Trong tháng 12 năm 2025, tổng nguồn vốn huy động tăng 12,59% so với đầu năm. Trong đó, nguồn vốn huy động chủ yếu là VND, chiếm 93,82%. Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đến 31/12/2025 đạt 470.000 tỷ đồng, tăng 12,59% so với đầu năm. Trong đó: Huy động từ phát hành các giấy tờ có giá ước đạt 2.700 tỷ đồng, giảm 27,52%; Tiền gửi ước đạt 467.300 tỷ đồng, tăng 12,95% so với đầu năm.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 31/12/2025 ước đạt 600.000 tỷ đồng, tăng 13,45% so với đầu năm.

c) Hoạt động Bảo hiểm

Năm 2025, tổng số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN dự ước đạt: 4.295.470 người (bao gồm người dừng tham gia năm 2025), tăng 188.018 người so với năm 2024 trong đó:

+ Số người có thẻ BHYT là 4.223.514 người, tăng 166.730 người so với năm 2024; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95% dân số.

+ Số người tham gia BHXH bắt buộc: 1.082.811 người, tăng 43.226 người so với năm 2024; Số người tham gia BHXH tự nguyện: 71.956 người, tăng 22.288 người so với năm 2024. Tỷ lệ lực lượng lao động tham gia BHXH chiếm 52%.

+ Số người tham gia BHTN: 1.053.336 người, tăng 40.140 người so với năm 2024; tỷ lệ lực lượng lao động tham gia BHTN chiếm 46%.

Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN toàn Ngành ước đạt 34.295,6 tỷ đồng. Tổng số chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN là 484,4 tỷ đồng, chiếm 1,39% so với số phải thu.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 12 năm 2025 ước tăng 2,14% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 5,53%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,00%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,30%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,80%.

So với cùng kỳ năm 2024, IIP tháng 12 năm 2025 ước tăng 22,53%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 7,43%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,70%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 23,65%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,36%.

Tính riêng quý IV năm 2025, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp tăng 19,44% so với cùng kỳ năm 2024; cả bốn nhóm ngành công nghiệp cấp I đều đạt tốc độ tăng khá. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 3,94%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,27%; sản xuất và phân phối điện tăng 28,60%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,71%.

Một số ngành có mức tăng cao so với quý cùng kỳ năm trước như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 59,80%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,25%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 31,42%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 30,59%; sản xuất kim loại tăng 29,34%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,68%.

Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,22% so với năm 2024. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 5,49% so với cùng kỳ năm 2024; tương ứng: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,46%; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,97%; Công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,59% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 30,12%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng  29,75%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,33%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,85%; Sản xuất kim loại tăng 24,05%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 22,45%... Bên cạnh đó, một số ngành có mức tăng thấp hơn như: Sản xuất xe có động cơ tăng 2,43%; Sản xuất đồ uống tăng 5,69%; Dệt tăng 9,16%…

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng 12 có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước phải kể đến như: Mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 46,40%; Thuốc lá sợi tăng 33,78%; Điện sản xuất tăng 33,32%; Thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 29,41%; Sợi các loại tăng 22,18%; Săm, lốp các loại tăng 20,44%... Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều mặt hàng chủ lực gặp khó khăn trong khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cụ thể: Cà phê các loại giảm 7,10%; Bột ngọt (mì chính) giảm 5,96%; Thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản tăng  0,91%; Máy giặt tăng 2,10%…

Năm 2025, nhiều sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng mạnh nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng đơn hàng, như: bao bì các loại tăng 191,92%; bê tông trộn sẵn tăng 30,71%; mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 28,25%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 26,97%; thuốc lá sợi tăng 25,87%. Ngược lại, một số sản phẩm có mức tăng thấp như: vải các loại tăng 0,79%; bột ngọt tăng 1,89%; thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 2,96%; nước ngọt các loại tăng 4,04%; đá xây dựng tăng 4,99%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 12 tăng 1,03% so với tháng trước và tăng 10,30% so với tháng cùng kỳ năm 2024. Nhiều ngành công nghiệp tiêu thụ ổn định, góp phần thúc đẩy chỉ số chung năm 2025 tăng 11,13% so cùng kỳ, kết quả này cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đang ở trạng thái rất tích cực, trong đó các nhóm ngành đạt mức tiêu thụ cao phải kể đến như: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 114,39%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 34,92%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 34,38%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 28,67%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 23,88%; Sản xuất kim loại tăng 23,11%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 21,32%…

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 12 năm 2025 tăng 0,30% so với tháng trước và giảm 3,41% so với tháng cùng kỳ năm 2024, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 11,37% so với tháng cùng kỳ năm trước; Tương tự: Lao động doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,56% và giảm 4,21%; Lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,38% và giảm 3,64%. Xét theo ngành cấp I: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,09% và tăng 2,25% so với cùng kỳ; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,30% và giảm 3,74%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,21% và tăng 31,28%; Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,38% và giảm 3,64%.

Tính chung năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 4,01% so với năm 2024, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,97%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,97%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 năm 2025 tăng 10,07% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 73,48%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 43,17%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 27,32%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 18,77%; Dệt tăng 17,30%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 17,12%…

Tỷ lệ tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12 năm 2025 ước tăng 96,77% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu xuất phát từ chiến lược chủ động dự trữ hàng hóa của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.

* Xu hướng sản xuất kinh doanh

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV năm 2025 cho thấy, tình hình sản xuất, kinh doanh tiếp tục có chuyển biến tích cực. Có 44,62% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn so với quý trước; 35,38% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 20,00% số doanh nghiệp cho rằng còn gặp khó khăn. Dự kiến trong quý I năm 2026, xu hướng kinh doanh được đánh giá khả quan hơn, với 52,31% số doanh nghiệp nhận định tình hình sẽ tốt lên so với quý trước; 33,85% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 13,85% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có 44,56% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 40,14% do nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 37,07% do tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 24,49% do tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 10,54% do thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 15,65% do không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 9,86% do thiết bị công nghệ lạc hậu; 24,41% do lãi suất vay vốn cao; 24,83% do khó khăn về tài chính; 2,04% do không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 7,14% do chính sách pháp luật của Nhà nước…

4. Vốn đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý IV năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 50.153,62 tỷ đồng, tăng 11,05% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn khu vực nhà nước ước đạt 14.184,97 tỷ đồng, tăng 8,45%; vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 18.857,87 tỷ đồng, tăng 16,58%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 17.110,78 tỷ đồng, tăng 7,56%

Ước tính cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 180.569,85 tỷ đồng, tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn khu vực nhà nước ước đạt 48.440,84 tỷ đồng, tăng 19,12%; vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 69.497,13 tỷ đồng, tăng 12,44%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 62.631,88 tỷ đồng, tăng 6,93% so với năm 2024.

5. Hoạt động xây dựng

Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh quý IV năm 2025 đạt 33.687,17 tỷ đồng, tăng 9,85% so với quý trước và tăng 25,84% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt 97.548,06 tỷ đồng, tăng 22,31% so với cùng kỳ.

6. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/12/2025, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh đạt 3.279 triệu USD. Trong đó, cấp mới 189 dự án với tổng vốn đăng ký 1.708 triệu USD; có 189 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn bổ sung 1.571 triệu USD.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 20/12/2025, tổng vốn đầu tư trong nước trên địa bàn tỉnh đạt 172.974,4 tỷ đồng. Trong đó, có 106 dự án được cấp mới với tổng vốn đăng ký khoảng 142.889,9 tỷ đồng; 46 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký bổ sung 33.948,77 tỷ đồng; 08 dự án điều chỉnh giảm vốn với tổng vốn đăng ký giảm khoảng 3.864,34 tỷ đồng.

Về phát triển doanh nghiệp: Từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp đạt 137.979 tỷ đồng. Trong đó, có 7.784 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 37,9% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký khoảng 62.030 tỷ đồng, giảm 15,4%; có 1.619 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với tổng vốn bổ sung khoảng 75.949 tỷ đồng.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh có 1.576 doanh nghiệp giải thể, tăng 96,7% so với cùng kỳ; có 1.202 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 17%; đồng thời có 3.038 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 18% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do một bộ phận doanh nghiệp hoạt động chưa hiệu quả, gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng, khả năng cân đối nguồn tài chính cho sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh gia tăng đã khiến một số doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, điều chỉnh lao động và thời gian làm việc, dẫn đến việc tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể. Các doanh nghiệp chịu tác động chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

7. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2025, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai tập trung đẩy mạnh sản xuất, ứng dụng công nghệ cao và chuyển dịch theo hướng tập trung, hiện đại. Các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định, nhờ giá cả tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát và thị trường tiêu thụ duy trì ổn định. Công tác lâm nghiệp, khuyến nông và thủy lợi được triển khai hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh.

a) Nông nghiệp

Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 164.425,76 ha, giảm 1.599,62 ha (-0,96%) so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 656.071 tấn, tăng 6.488 tấn (+1,00%) so với năm 2024.

Cây lúa: Diện tích gieo trồng đạt 61.460,98 ha, giảm 173,54 ha (-0,28%) so với cùng kỳ; trong đó vụ Đông Xuân 18.550,29 ha, tăng 0,82%; vụ Hè Thu 18.463,74 ha, giảm 0,25%; vụ Mùa 24.446,95 ha, giảm 1,12%. Diện tích lúa giảm chủ yếu do giá lúa không ổn định, chi phí sản xuất tăng, người dân chuyển đổi sang cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn; một số diện tích bị thu hồi phục vụ các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Năng suất lúa bình quân đạt 57,96 tạ/ha, tăng 0,52%; sản lượng lúa cả năm đạt 356.233 tấn, tăng 0,24% so với năm 2024.

Cây bắp (ngô): Diện tích gieo trồng đạt 36.187,62 ha, giảm 0,50%; năng suất đạt 82,86 tạ/ha, tăng 2,43%; sản lượng đạt 299.839 tấn, tăng 1,92%. Diện tích giảm do chuyển đổi sang cây trồng có giá trị cao hơn và ảnh hưởng ngập úng cục bộ.

- Cây lâu năm: Tình hình sản xuất sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định nhờ thời tiết thuận lợi và kiểm soát tốt dịch bệnh. Giá cả ổn định, thị trường tiêu thụ khả quan, người dân chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả, tích cực ứng dụng giống mới và kỹ thuật cao vào sản xuất để nâng cao chất lượng.

Sơ bộ năm 2025, tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 615.178,76 ha, tăng 8.522,31 ha (+1,40%) so cùng kỳ. Trong đó:

- Diện tích cây ăn quả là 101.838,72 ha, tăng 737,60 ha (+0,73%) so cùng kỳ và chiếm 16,55% tổng diện tích. Vài năm trở lại đây, diện tích và sản lượng cây ăn quả tăng trưởng tích cực nhờ đạt hiệu quả kinh tế cao của một số cây trồng chủ yếu như: Chuối đạt 20.294,65 ha (+1,66%), sản lượng đạt 676.503,26 tấn (+6,88%) so cùng kỳ; Sầu riêng đạt 24.903,72 ha (+0,17%), sản lượng đạt 158.732,67 tấn (+5,05%) so cùng kỳ; Bưởi đạt 11.331,32 ha (+1,92%), sản lượng đạt 176.639,94 tấn (+6,79%) so cùng kỳ. Sự gia tăng diện tích và sản lượng của các cây trên là người nông dân mạnh dạn chuyển đổi trồng sang các cây trồng đem lại lợi ích kinh tế cao hơn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật (giống cấy mô, chuyên canh) và chủ động điều chỉnh mùa vụ để thích ứng thị trường. Đồng thời, các giải pháp chế biến sản phẩm và quy hoạch vùng trồng tập trung đã giúp nâng cao năng suất, ổn định đầu ra và giá trị sản phẩm.

- Diện tích cây công nghiệp lâu năm là 513.340,04 ha, tăng 101,54 ha (+1,54%). Trong năm, do biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất cây trồng. Tuy nhiên, với lợi thế đất đai thổ nhưỡng, các loại cây lâu năm trọng điểm có diện tích lớn, diện tích cho sản phẩm vẫn tiếp tục tăng từ đó làm cho sản lượng, giá trị sản lượng cây trồng tiếp tục tăng lên, trong đó: Diện tích điều đạt 178.135,96 ha (+2,17%), năng suất đạt 10,76 tạ/ha (-1,31%), sản lượng thu hoạch đạt 188.623,1 tấn (+1,29%) so cùng kỳ; Diện tích hồ tiêu đạt 21.594,63 ha (+0,84%), năng suất đạt 22,44 ta/ha (-0,43%), sản lượng thu hoạch đạt 44.877,37 tấn (+0,63%) so cùng kỳ; Diện tích cao su đạt 291.454,38 ha (+tăng 1,31%), năng suất đạt 20,62 tạ/ha (+0,18%); sản lượng thu hoạch đạt 516.038,52 tấn (+2,07%) so cùng kỳ. Sản lượng cao su tăng mạnh nhờ giá thu mua ổn định và nhu cầu nhập khẩu từ Mỹ, Trung Quốc phục hồi, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư chăm sóc và thay thế giống mới năng suất cao. Ngược lại, diện tích điều và tiêu tăng nhưng năng suất lại giảm nhẹ, cho thấy sản lượng tăng chủ yếu nhờ mở rộng quy mô canh tác. Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn trong tháng tương đối ổn định, mặc dù có phát sinh dịch bệnh tuy nhiên vẫn trong tầm kiểm soát. Hiện tại đang là thời điểm người chăn nuôi tập trung tái đàn, tăng đàn, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm để cung ứng nguồn thịt ra thị trường những tháng cuối năm và các kỳ lễ, Tết sắp tới.

Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 12/2025 là 3.920.948 con, tăng 36.398 con (+0,94%) so cùng kỳ. Trong đó: Trâu 16.599 con, tăng 225 con (+1,37%); Bò 146.893 con, tăng 1.232 con (+0,85%). Số lượng trâu, bò tăng do nhu cầu tiêu dùng thịt gia súc cao hộ chăn nuôi đầu tư thêm giống, bên cạnh đó tỉnh khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, bán chăn thả, cải tạo giống góp phần vào sự tăng trưởng chung. Đàn lợn 3.757.456 con (không tính heo con chưa tách mẹ), tăng 34.941 con (+0,94%) so cùng kỳ. 

Sản lượng thịt gia súc cả năm 2025 tăng khá so cùng kỳ, dự ước thịt trâu trong tháng 12/2025 đạt 214 tấn, tăng 5,75% so tháng cùng kỳ; Ước quý IV/2025 đạt 614 tấn, tăng 8,29%; Lũy kế cả năm 2025 thịt trâu ước đạt 2.020 tấn, tăng 1,41% so cùng kỳ. Sản lượng thịt bò trong tháng 12/2025 đạt 1.320 tấn, tăng 4,21% so tháng cùng kỳ; Ước quý IV/2025 đạt 3.622 tấn, tăng 4,44%; Lũy kế cả năm 2025 thịt bò ước đạt 11.669 tấn, tăng 3,14%. Sản lượng thịt lợn trong tháng 12 đạt 59.699 tấn, tăng 1,68% so tháng cùng kỳ; Ước quý IV/2025 đạt 174.529 tấn, giảm 0,92%; Lũy kế cả năm 2025 thịt lợn ước đạt 859.281 tấn, tăng 3,13% so cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 12/2025 là 35.653,98 ngàn con, tăng khoảng 868,27 ngàn con (+2,5%) so cùng kỳ. Trong đó: Đàn gà đạt 32.180,65 ngàn con, tăng 638,29 ngàn con (+2,02%) so cùng kỳ và chiếm 90,26% tổng đàn gia cầm. Lũy kế cả năm 2025 thịt gia cầm ước đạt 277.229 tấn, tăng 7,22%. Sản lượng trứng gia cầm cả năm ước đạt 1.775,46 triệu quả, tăng 3,31% so với cùng kỳ.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng 12/2025 sản lượng khai thác gỗ ước đạt 55.215,36 m3, tăng 0,04% so với tháng cùng kỳ; Ước quý IV/2025 đạt 169.520 m3, tăng 36m3 (+0,02%); Lũy kế cả năm 2025, tổng số gỗ khai thác đạt được 479.996 m3, tăng 14.506 m3 (+3,12%) so cùng kỳ, nguyên nhân tăng là do diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch và một số diện tích khai thác tận thu dự án chuyển đổi quy hoạch. Sản lượng củi khai thác trong tháng 12/2025 ước đạt 4.680 ste, tăng 0,03% so tháng cùng kỳ; Ước quý IV/2025 đạt 14.003 ste, giảm 0,25%; Lũy kế cả năm 2025 tổng số củi khai thác đạt 30.711 ste, tăng 1,41% so với cùng kỳ.

c) Thủy sản

Tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng 12/2025 diễn ra tương đối thuận lợi; hoạt động nuôi trồng tiếp tục được quan tâm, từng bước cải thiện về phương thức sản xuất. Các mô hình nuôi công nghiệp, nuôi lồng bè và nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP được mở rộng, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm; giá tiêu thụ thủy sản trên thị trường ổn định và tăng nhẹ.

Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 12/2025 đạt 5.534,60 tấn, tăng 319 tấn (+6,12%); Ước quý IV/2025 đạt 18.245 tấn, tăng 6,74%; Lũy kế cả năm 2025 ước đạt 88.278 tấn, tăng 6,15% so cùng kỳ. Trong đó:

- Cá trong tháng ước đạt 4.085,89 tấn, tăng 7,52%; Ước quý IV/2025 đạt 13.687 tấn, tăng 7,81%; Lũy kế đạt 76.487 tấn, tăng 6,46% so cùng kỳ.

- Tôm trong tháng ước đạt 1.208,85 tấn, tăng 2,26%; Ước quý IV/2025 đạt 3.732 tấn, tăng 3,07%; Lũy kế đạt 8.848 tấn, tăng 3,95% so cùng kỳ.

- Thủy sản khác trong tháng ước đạt 239,86 tấn, tăng 2,95%; Ước quý IV/2025 đạt 826 tấn, tăng 6,44%; Lũy kế đạt 2.943 tấn, tăng 4,99% so cùng kỳ.

​8. Thương mại du lịch, giá cả, xuất nhập khẩu và vận tải

8.1. Thương mại và dịch vụ

Năm 2025, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng trưởng tích cực; giá các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định. Ngành Công Thương đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tổ chức các phiên chợ hàng Việt, triển khai hiệu quả Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; cùng với các chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng dịp lễ, Tết, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 năm 2025 ước đạt 43.307,04 tỷ đồng, tăng 3,55% so với tháng trước và tăng 19,48% so với cùng kỳ. Ước năm 2025 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 465.838,24 tỷ đồng, tăng 18,64% so cùng kỳ. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12 ước đạt 31.069,8 tỷ đồng, tăng 3,74% so với tháng trước và tăng 17,43% so với cùng kỳ. Dự ước quý IV năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 90.163 tỷ đồng, tăng 7,39% so với quý trước và tăng 17,61% so với cùng kỳ. Trong quý IV, hầu hết các nhóm hàng hóa bán lẻ đều ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ, trong đó: Xăng, dầu các loại đạt 15.142,7 tỷ đồng, tăng 27,5%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 10.664,2 tỷ đồng, tăng 19,2%; đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị gia đình đạt 8.257,9 tỷ đồng, tăng 16,5%; vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 761,5 tỷ đồng, tăng 15,4%; nhóm lương thực, thực phẩm đạt 31.980,4 tỷ đồng, tăng 14,75%; hàng may mặc đạt 3.816,1 tỷ đồng, tăng 14,37%; ô tô các loại đạt 2.729,5 tỷ đồng, tăng 11,98%… doanh thu bán lẻ quý IV tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp lễ, Noel, Tết Dương lịch và các dịp có chương trình khuyến mãi giảm giá dịp cuối năm.

Ước tính năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 335.111 tỷ đồng, tăng 17,16% so với cùng kỳ. Hoạt động bán lẻ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng trong nước không ngừng mở rộng, đời sống dân cư từng bước được cải thiện. Bên cạnh đó, tỉnh Đồng Nai đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến khích tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước; thương mại điện tử phát triển góp phần mở rộng thị trường và đa dạng hóa các kênh phân phối. Cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập của người lao động được nâng lên, các yếu tố này đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh.

Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 12 năm 2025 đạt 4.617,3 tỷ đồng, tăng 3,38% so với tháng trước và tăng 21,89% so với cùng kỳ. Dự ước quý IV đạt 13.043,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so cùng kỳ.

Ước năm 2025, doanh thu ngành lưu trú, ăn uống đạt 49.745,8 tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu hoạt động lưu trú đạt 1.082,3 tỷ đồng, tăng 32,74%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 48.663,5 tỷ đồng, tăng 20,1%. Doanh thu tăng chủ yếu do các hoạt động du lịch, lễ hội, vui chơi giải trí được tổ chức sôi động, cùng với nhu cầu tiêu dùng, ăn uống của người dân và khách tham quan tăng cao vào thời điểm cuối năm; đồng thời, hệ thống nhà hàng, khách sạn và cơ sở dịch vụ trên địa bàn tỉnh không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành.

Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tháng 12 ước đạt 40,4 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước và 43,3% so với cùng kỳ. Dự tính quý IV năm 2025, doanh thu toàn ngành ước đạt 119,02 tỷ đồng, tăng 47% so với cùng kỳ.

Ước năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành đạt 428,6 tỷ đồng, tăng 39% so cùng kỳ. Ngành du lịch Đồng Nai có những chuyển biến tích cực và từng bước phát triển ổn định. Du lịch nội địa tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với sự đa dạng hóa sản phẩm du lịch và việc khai thác hiệu quả các điểm đến sinh thái, văn hóa, nghỉ dưỡng. Sau sáp nhập tỉnh Bình Phước, ngành du lịch Đồng Nai có thêm nhiều cơ hội mở rộng không gian phát triển, kết nối hệ thống điểm đến giữa du lịch sinh thái rừng, hồ, thác của Bình Phước cũ với các khu du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh và vui chơi giải trí của Đồng Nai. Việc liên kết tài nguyên du lịch, hoàn thiện hạ tầng giao thông và xây dựng các tuyến, tour du lịch liên vùng được kỳ vọng sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú của du khách và tạo động lực mới cho phát triển du lịch bền vững trong thời gian tới. Mặc dù doanh thu du lịch chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu ngành dịch vụ, tuy nhiên ngành này thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực liên quan như lưu trú và ăn uống, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của địa phương.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 12 ước đạt 7.579,5 tỷ đồng, tăng 2,88% so với tháng trước và tăng 26,89% so cùng kỳ. Ước cả năm 2025, doanh thu dịch vụ khác đạt 80.552,7 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ. Một số ngành dịch vụ tăng khá so cùng kỳ như: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 27,14%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 21,58%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 21,15%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 20,47%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 29,24%; dịch vụ khác tăng 18,13% so với cùng kỳ. Các hoạt động dịch vụ tiếp tục phát triển cùng với quá trình mở rộng sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, chất lượng đời sống của người dân; các ngành dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí được quan tâm phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe, học tập và hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân. Công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực dịch vụ công được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.

8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 12 năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Dự ước kim ngạch xuất khẩu tháng 12 đạt 3.041,95 triệu USD, tăng 5,98% so với tháng trước và tăng 12,89% so với cùng kỳ.

Ước năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 34.643,79 triệu USD, tăng 16,23% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất khẩu năm 2025 tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với nhiều mặt hàng đạt mức tăng khá đến cao như cao su, cà phê, hạt điều, gỗ và sản phẩm gỗ. Các nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chủ lực như giày dép, dệt may, máy móc, thiết bị tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhóm hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện duy trì mức tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi của nhu cầu thị trường thế giới cũng như hiệu quả từ hoạt động sản xuất, xuất khẩu và mở rộng đơn hàng của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; qua đó góp phần ổn định sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Cụ thể:

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu duy trì mức tăng so cùng kỳ như: Cao su đạt 1.351,87 triệu USD, tăng 37,41%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2.676,65 triệu USD, tăng 34,87%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2.322,97 triệu USD, tăng 31,18%; hạt điều đạt 2.772,5 triệu USD, tăng 30,78%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 437,83 triệu USD, tăng 17,85%; cà phê đạt 1.578,51 triệu USD, tăng 15,18%; giày dép các loại đạt 5.661,77 triệu USD, tăng 11,26%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 3.322,91 triệu USD, tăng 9,23%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 3.322,91 triệu USD, tăng 9,23%; hạt tiêu đạt 185,21 triệu USD, tăng 8,52%; hàng dệt may đạt 2.196,43 triệu USD, tăng 5,9%; xơ, sợi dệt các loại đạt 1.206,96 triệu USD, tăng 5,24%…

Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của tỉnh với kim ngạch đạt 11.889 triệu USD, chiếm 34,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này gồm: Giày dép các loại; gỗ và sản phẩm gỗ; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác; hàng dệt may và các hàng nông sản như hạt điều, cà phê, tiêu…

Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4.450 triệu USD, chiếm 12,84%, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Cao su, hạt điều, giày dép và xơ, sợi dệt, hàng rau quả… tiếp đến Nhật Bản với 2.805 triệu USD, chiếm 8,1%, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: Sản phẩm gỗ, giày dép, máy móc thiết bị, máy vi tính và sản phẩm điện tử…

Các thị trường khác như: Hàn quốc, Anh, Thái Lan, Bỉ và Đức chiếm khoảng 2 – 4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm 2025 ước đạt 1.965,37 triệu USD, tăng 4,63% so tháng trước và tăng 10,03% so cùng kỳ. Ước năm 2025 kim ngạch nhập khẩu ước đạt 23.893,55 triệu USD, tăng 14,25% so cùng kỳ.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có mức tăng so cùng kỳ như: cao su ước đạt 488,14 triệu USD, tăng 38,79%; tiếp theo là gỗ và sản phẩm gỗ đạt 419,57 triệu USD, tăng 22,23%; máy móc, thiết bị, phụ tùng khác đạt 2.852,43 triệu USD, tăng 17,15%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 2.189,48 triệu USD, tăng 12,72%; thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 639,18 triệu USD, tăng 10,41%; xơ, sợi dệt 438,81 triệu USD, tăng 9,86%; hạt điều đạt 2.747,43 triệu USD, tăng 9,16%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày 905,95 triệu USD tăng 8,64%... Ngoài ra, một số nhóm hàng khác duy trì mức tăng ổn định như hóa chất tăng 5,44%, chất dẻo nguyên liệu tăng 4,63%, vải các loại tăng 4,24% và sắt thép các loại tăng 3,57%...

Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của tỉnh với kim ngạch nhập khẩu năm 2025 ước đạt 8.629 triệu USD, chiếm 36,12% tổng kim ngạch nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày; xơ, sợi dệt các loại…

Các thị trường khác như: Hàn Quốc ước đạt 2.304 triệu USD, chiếm 9,64%; Hoa kỳ 1.401 triệu USD, chiếm 5,86%; Đài Loan 1.422 triệu USD, chiếm 5,95%; Nhật Bản ước đạt 1.236 triệu USD, chiếm 5,17%; Indonesia ước đạt 790 triệu USD, chiếm 3,31%...

Năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa của Đồng Nai đạt xuất siêu khoảng 10,7 tỷ USD (chính thức 11 tháng xuất siêu của tỉnh đạt 9,7 tỷ USD). Bình quân xuất siêu ước đạt 892 triệu USD/tháng.

8.3. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 12/2025 tiếp tục tăng trưởng khá so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, chủ yếu do nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa tăng cao vào dịp cuối năm, phục vụ lễ, Tết và hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu. Hạ tầng giao thông được đầu tư, khai thác hiệu quả cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải và logistics đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận tải.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12/2025 ước đạt 4.647,8 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 24,88% so với cùng kỳ. Ước quý IV/2025 đạt 11.245,7 tỷ đồng, tăng 20,81%; lũy kế năm 2025 đạt 50.633,78 tỷ đồng, tăng 19,96% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách tăng 19,91%, vận tải hàng hóa tăng 21,8%, dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 15,91%.

Vận tải hành khách tháng 12 ước đạt 9,1 triệu lượt khách, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 18,53% so với cùng kỳ; lũy kế năm đạt 105,2 triệu lượt, tăng 14,68%. Luân chuyển hành khách tháng 12 đạt 678 triệu HK.km, tăng 22,06% so với cùng kỳ; lũy kế năm đạt 7.860,7 triệu HK.km, tăng 20,97%. Doanh thu vận tải hành khách năm 2025 ước đạt 7.600 tỷ đồng, tăng 19,91%.

Vận tải hàng hóa tháng 12 ước đạt 10,8 triệu tấn, tăng 17,86% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 957,1 triệu tấn.km, tăng 21,22%. Ước quý IV/2025 vận chuyển đạt 31,7 triệu tấn, tăng 19,55%; lũy kế năm 2025 đạt 120 triệu tấn, tăng 14,81%, luân chuyển đạt 10.536,3 triệu tấn.km, tăng 16,97% so với cùng kỳ.

Toàn tỉnh hiện có 358 đơn vị vận tải được cấp phép hoạt động, trong đó gồm 18 đơn vị vận tải hành khách bằng xe buýt, 26 đơn vị vận tải hành khách theo tuyến cố định và 11 đơn vị vận tải hành khách bằng xe taxi.

Vận tải hành khách theo tuyến cố định đang khai thác 332 tuyến (19 tuyến nội tỉnh, 313 tuyến liên tỉnh) với 664 nốt tài, thực hiện bình quân 17.266 chuyến/tháng. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có 20 tuyến với 256 phương tiện, bình quân khoảng 1.090 chuyến/ngày. Lĩnh vực taxi có 11 đơn vị đang hoạt động với 1.996 xe trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh sự tăng trưởng của các loại hình vận tải, dịch vụ kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng 12 tiếp tục tăng do nhu cầu lưu kho, bốc xếp và logistics tăng cao vào thời điểm cuối năm. Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 ước đạt 1.212,4 tỷ đồng, tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 24,84% so với cùng kỳ; ước cả năm 2025 đạt 12.891,3 tỷ đồng, tăng 15,91%.

Dịch vụ bưu chính, chuyển phát duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tháng 12/2025, doanh thu ước đạt 39,6 tỷ đồng, tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 27,42% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 doanh thu ước đạt 2.879 tỷ đồng, tăng 7,33% so với quý trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 đạt 10.816,7 tỷ đồng, tăng 14,5%. Kết quả tăng trưởng chủ yếu nhờ sự phát triển mạnh của thương mại điện tử, nhu cầu mua sắm trực tuyến gia tăng và dịch vụ giao hàng ngày càng thuận tiện.

Số thuê bao điện thoại và Internet:

Ước quý IV/2025 thuê bao điện thoại phát triển mới đạt 285.983 thuê bao tăng 5,67% so quý trước. Cả năm 2025 thuê bao điện thoại phát triển mới ước đạt 1.095.006 thuê bao tăng 8,15% so cùng kỳ, trong đó: Có 913 thuê bao cố định giảm 14,11% và 1.094.093 thuê bao di động, tăng 8,17% so cùng kỳ.

Ước quý IV/2025 số thuê bao Internet phát triển mới đạt 42.219 thuê bao tăng 5,25% so quý trước và tăng 12,35% so với quý cùng kỳ. Cả năm 2025 số thuê bao Internet phát triển mới ước đạt 161.288 thuê bao, tăng 10,35% so với cùng kỳ.

8.4. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2025 tăng 0,43% so với tháng trước, tăng 3,66% so với cùng kỳ năm trước và bình quân năm 2025 tăng 3,44%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua sắm, tiêu dùng tăng cao vào dịp cuối năm và các ngày lễ, Tết; bên cạnh đó, giá xăng dầu trong nước biến động theo giá thế giới, trong khi giá heo hơi giảm nhẹ nhờ nguồn cung ổn định, góp phần kiềm chế mức tăng chung của CPI.

So với tháng trước, CPI tháng 12/2025 tăng 0,43% (khu vực thành thị tăng 0,50%; nông thôn tăng 0,37%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 06 nhóm tăng giá, 03 nhóm giảm giá và 02 nhóm ổn định. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất (+1,18%), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào CPI chung, chủ yếu do giá thực phẩm tăng (+1,42%) trong bối cảnh nguồn cung rau củ còn hạn chế và chi phí đầu vào tăng. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,43%, chịu tác động từ nhu cầu sửa chữa nhà ở cuối năm và giá vật liệu xây dựng tăng. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,36% do nhu cầu mua sắm các thiết bị sinh hoạt tăng.

Ở chiều ngược lại, nhóm giao thông giảm 0,84%, làm giảm 0,1 điểm phần trăm CPI chung, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo các đợt điều chỉnh trong tháng. Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,38% nhờ các chương trình khuyến mãi, giảm giá thiết bị công nghệ.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 12/2025 tăng 3,66%, trong đó 09/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là thuốc và dịch vụ y tế (+12,85%); thấp nhất là văn hóa, giải trí và du lịch (+0,23%). Hai nhóm giảm là giao thông (-2,07%) và bưu chính, viễn thông (-0,76%).

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng năm 2025 tăng 3,44% so bình quân cùng kỳ. Trong 09 nhóm hàng hoá tăng giá, tăng cao nhất nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,15%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 8,21%; Giáo dục tăng 4,46%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,32%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,79%; nhà ở, chất đốt và VLXD tăng 3,52%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,37%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,68%; may mặc, mũ nón và giày dép, tăng 1,18%. Có 02 nhóm chỉ số giá giảm là giao thông giảm 3,3%, bưu chính viễn thông giảm 0,7%.

Chỉ số giá vàng tháng 12 tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 63,7% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng tăng mạnh của giá vàng thế giới. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua ròng từ các ngân hàng trung ương và các quỹ đầu tư (ETF) trong bối cảnh rủi ro địa chính trị và bất ổn vĩ mô gia tăng; đồng thời, nguồn cung vàng miếng trong nước còn hạn chế và tâm lý kỳ vọng giá tăng đã góp phần đẩy giá vàng trong nước lên cao.

Chỉ số giá USD tháng 12 tăng 0,15% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá USD tăng 3,55%; bình quân 12 tháng năm 2025 tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Tình hình dân số, lao động việc làm, đời sống dân cư

- Dân số: Dân số trung bình tỉnh Đồng Nai năm 2025 ước đạt 4,49 triệu người, tăng 1,49% so với năm 2024. Trong đó, dân số khu vực thành thị 1,83 triệu người (chiếm 40,67%), khu vực nông thôn 2,67 triệu người (chiếm 59,33%); dân số nam chiếm 50,31%, dân số nữ chiếm 49,69% tổng dân số.

- Đời sống dân cư: Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng tích cực, nhất là các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ cuối năm, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng cao; thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực. Việc đưa vào khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã mở ra không gian phát triển mới, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội. Công tác an sinh xã hội được triển khai kịp thời, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống nhân dân cơ bản ổn định.

- Chính sách an sinh xã hội: Trong quý IV/2025, công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai đầy đủ, kịp thời. Tổng kinh phí hỗ trợ người có công và thân nhân đạt 442.391 triệu đồng, tăng so với quý trước và cùng kỳ; lũy kế năm 2025 đạt 944.188 triệu đồng, chủ yếu do rà soát, cập nhật đối tượng và đẩy nhanh tiến độ chi trả theo quy định. Trong quý không phát sinh trợ cấp đột xuất.

- Tình hình lao động, việc làm: Nhiều doanh nghiệp tăng cường tuyển dụng lao động với số lượng lớn để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh nhất là ngành dệt may, giày da nên đã tạo điều kiện cho người lao động có nhiều cơ hội tìm kiếm được việc làm tăng thêm thu nhập. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng trong độ tuổi lao động ước tính đến cuối quý IV/2025 là 1,46 %, tăng 0,14% so với quý trước.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý IV/2025 ước tính là 2.568.526 người, tăng 46.991 người cùng kỳ năm trước. Trong đó: lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 1.115.020 người chiếm 43,41% trong tổng số lực lượng lao động và lực lượng lao động ở khu vực nông thôn là 1.453.506 người chiếm 56,59%.

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ước tính đến cuối quý 4 năm 2025 là 2.436.869 người tăng 13.570 người tương ứng tăng 0,56% so cùng kỳ; trong đó: khu vực thành thị là 1.053.025 người chiếm 43,21% và ở khu vực nông thôn là 1.383.844 người chiếm 56,79% trong tổng số lao động đang làm việc.

- Kết quả giải quyết việc làm: Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 5.347 lượt người. Lũy kế từ đầu năm đến nay, giải quyết việc làm cho 131.000 lượt người, đạt 105% kế hoạch năm, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2024.

2. Giáo dục - Đào tạo

Năm 2025, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức các hội nghị trực tuyến chỉ đạo triển khai dạy học 02 buổi/ngày ở cấp tiểu học, tổng kết thí điểm mô hình trường học số Google tại các trường trung học cơ sở, tổ chức hội nghị Hội đồng chuyên môn giáo viên các cấp năm học 2025-2026, hội nghị nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục trung học.

Năm học 2024 - 2025, Sở tổ chức và tham gia nhiều kỳ thi, hội thi đạt kết quả nổi bật. Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật cấp tỉnh dành cho học sinh trung học có 201 giải, gồm 10 giải Nhất, 32 giải Nhì, 32 giải Ba và 35 giải Tư; tham dự cấp quốc gia đạt 01 giải Ba và 02 giải Tư. Kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh có 4.133 học sinh đạt giải. Hội thao Giáo dục quốc phòng – an ninh cấp THPT công nhận giải toàn đoàn cho 10 trường và 314 cá nhân đạt giải. Các hội thi giáo viên đạt tỷ lệ cao, trong đó Hội thi giáo viên dạy giỏi THCS có 91,25% giáo viên được công nhận; Hội thi giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi tiểu học có 87,2% giáo viên đạt danh hiệu cấp tỉnh.

- Kết quả đào tạo nghề: Năm 2025, toàn tỉnh có 50.677 người tốt nghiệp các khóa đào tạo, đạt 84,46% kế hoạch năm 2025 và giảm 18,51% so với cùng kỳ năm 2024. trong đó: Cao đẳng tốt nghiệp: 4.976 học viên, đạt 99,52% so với kế hoạch; Trung cấp tốt nghiệp: 6.234 học viên, đạt 98,95% so với kế hoạch; Sơ cấp và đào tạo thường xuyên (Chứng chỉ): 39.467 học viên, đạt 72,81% so với kế hoạch.

3. Y tế

- Tình hình dịch bệnh và phòng, chống dịch:

Năm 2025, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cơ bản được kiểm soát; hệ thống y tế duy trì tốt công tác giám sát, phát hiện sớm và triển khai kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch. Tuy nhiên, một số bệnh truyền nhiễm có xu hướng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát, nhất là sốt xuất huyết, tay chân miệng và sốt phát ban nghi sởi. Toàn tỉnh ghi nhận 21.817 ca sốt xuất huyết, gấp 2,29 lần so với cùng kỳ , 07 ca tử vong; Bệnh tay chân miệng có xu hướng gia tăng với 9.257 ca mắc, tăng 3.718 ca, gấp 1,67 lần so với cùng kỳ, ghi nhận 01 ca tử vong, tăng 01 ca. Sốt phát ban nghi sởi ghi nhận 6.539 ca, tăng 2.314 ca, gấp 1,55 lần so với cùng kỳ; tổng số 03 ca tử vong, tăng 03 ca. Đối với các bệnh truyền nhiễm khác, viêm não mô cầu ghi nhận 08 trường hợp mắc, trong đó có 01 ca tử vong, tăng 01 ca so với cùng kỳ năm 2024; viêm não Nhật Bản B trong tháng ghi nhận 01 ca, cộng dồn 05 ca, giảm 02 ca so với năm 2024.

- Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Trong năm, toàn tỉnh ghi nhận 6.759 bệnh nhân, trong đó 6.548 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ARV qua bảo hiểm y tế, đạt tỷ lệ 97%, góp phần kiểm soát dịch HIV/AIDS và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

- Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm: Công tác quản lý an toàn thực phẩm được triển khai thường xuyên, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm. Toàn tỉnh đã kiểm tra 12.636 lượt cơ sở, trong đó 10.945 lượt đạt yêu cầu, chiếm 86,62%. Qua kiểm tra, 1.691 cơ sở bị xử phạt vi phạm hành chính; 68 cơ sở bị xử lý vi phạm với tổng số tiền phạt 499.750.000 đồng. Bên cạnh đó, 05 cơ sở bị đình chỉ hoạt động, tiêu hủy 3 kg chả lụa và 12 kg bánh kẹo không rõ nguồn gốc, đồng thời chuyển 01 vụ việc sang cơ quan điều tra để xử lý theo quy định.

THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang