I. LĨNH VỰC KINH TẾ
1. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng 01 năm 2026, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai duy trì ổn định, một số lĩnh vực ghi nhận mức tăng khá nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán.
a) Nông nghiệp
Trồng trọt: Đến ngày 20/01/2026, diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân trên địa bàn tỉnh ước đạt 29.756,51 ha, giảm 11,92 ha (-0,04%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích lúa đạt 11.467,50 ha, giảm 33,68 ha (-0,29%), chủ yếu do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa làm thu hẹp quỹ đất canh tác. Diện tích một số cây trồng khác tăng so với cùng kỳ, gồm: bắp đạt 6.975,55 ha (+0,43%); lạc 230,5 ha (+0,97%); đậu các loại 1.008,3 ha (+0,19%); rau các loại 4.790,9 ha (+0,05%). Ngược lại, diện tích khoai lang đạt 64,5 ha (-3,82%), đậu tương 66,46 ha (-2,24%) và các cây trồng khác đạt 5.152,8 ha (-0,20%).
Chăn nuôi:
Trong tháng 01/2026, ngành chăn nuôi duy trì ổn định; các vật nuôi chủ lực phát triển theo hướng tập trung, an toàn sinh học nhằm bảo đảm nguồn cung phục vụ dịp Tết Nguyên đán. Tổng đàn gia súc đến thời điểm tháng 01/2026 đạt 3.989.341 con, tăng 97.300 con (+2,50%) so với cùng kỳ. Trong đó, đàn trâu đạt 16.613 con, tăng 236 con (+1,44%); đàn bò đạt 147.024 con, tăng 1.346 con (+0,92%). Số lượng trâu, bò tăng do nhu cầu tiêu dùng thịt gia súc ở mức cao, người chăn nuôi đầu tư bổ sung con giống; đồng thời, tỉnh khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, bán chăn thả gắn với cải tạo giống, góp phần vào tăng trưởng chung của đàn gia súc.
Đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) đạt 3.825.704 con, tăng 97.718 con (+2,57%) so với cùng kỳ. Nhu cầu thị trường thịt lợn tăng cao, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán, đã thúc đẩy các cơ sở chăn nuôi chủ động tăng đàn.
Tổng đàn gia cầm đến thời điểm tháng 01/2026 đạt 35.855,83 nghìn con, tăng 935,98 nghìn con (+2,68%) so với cùng kỳ. Trong đó, đàn gà đạt 32.591,50 nghìn con, tăng 929,99 nghìn con (+2,94%) và chiếm 90,90% tổng đàn gia cầm.
b) Lâm nghiệp
Trong tháng 01/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 41.272 m³, tăng 1.169 m³ (+2,91%) so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng do diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch và một số diện tích khai thác tận thu từ các dự án chuyển đổi quy hoạch.
c) Thủy sản
Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 01/2026 đạt 7.068,79 tấn, tăng 313,83 tấn (+4,65%) so cùng kỳ. Trong đó:
- Cá trong tháng ước đạt 6.129,48 tấn, tăng 276,42 tấn (+4,72%) so cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng thu hoạch cá tra công nghiệp ước đạt 525,29 tấn, tăng 21,75 tấn (+4,32%).
- Tôm trong tháng ước đạt 767,17 tấn, tăng 31,69 tấn (+4,31%) so cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng thu hoạch tôm sú ước đạt 119,92 tấn, tăng 2,65 tấn (+2,26%); tôm thẻ chân trắng ước đạt 648,03 tấn, tăng 29,93 tấn (4,84%).
- Thủy sản khác trong tháng ước đạt 172,14 tấn, tăng 5,72 tấn (+3,44%) so cùng kỳ.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng tiếp tục tăng do nhu cầu thị trường và giá bán ở mức thuận lợi, việc phát triển các vùng nuôi theo hướng VietGAP và hữu cơ đã góp phần nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản trên thị trường.
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2026 ước tăng 2,48% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 0,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,50%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 28,58%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,40%.
So với cùng kỳ năm 2025, IIP tháng 01/2026 ước tăng 11,71%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 6,32%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,86%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 75,43%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,43%.
Hầu hết các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức tăng so với tháng trước, trong đó một số ngành tăng khá như: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,03%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,61%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 4,08%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 4,05%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,22%; sản xuất đồ uống tăng 2,58%; sản xuất kim loại tăng 2,0%.
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 75,43%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 19,69%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,11%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,40%; Sản xuất trang phục tăng 12,53%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,02%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,57%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,60%... Bên cạnh đó, một số ngành có mức tăng thấp hơn như: In, sao chép bản ghi các loại giảm 12,58%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 3,45%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,67%…
Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 01 năm 2026 tăng 0,33% so với tháng trước và giảm 4,94% so với tháng cùng kỳ năm 2025,… Nhiều doanh nghiệp ghi nhận số lượng đơn hàng mới tăng, đặc biệt ở các ngành sử dụng nhiều lao động như da giày, may mặc, linh kiện điện tử, qua đó làm gia tăng nhu cầu tuyển dụng và góp phần tạo sự sôi động cho thị trường lao động công nghiệp.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01 năm 2026 tăng 10,01% so với tháng trước. Tỷ lệ tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 01 năm 2026 ước tăng 83,37% so với tháng cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu xuất phát từ chiến lược chủ động dự trữ hàng hóa của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.
3. Vốn đầu tư phát triển
Trong tháng 01 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.383,00 tỷ đồng, giảm 59,37% so với tháng trước và tăng 2,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.040,05 tỷ đồng, giảm 69,42% so với tháng trước và giảm 22,86% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 342,95 tỷ đồng, gấp khoảng 124 lần so với tháng trước và gấp khoảng170 lần so với cùng kỳ năm 2025.
4. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp
Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 20/01/2026, tổng vốn đầu tư trong nước ở trong và ngoài các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh đạt 10.900,6 tỷ đồng, đạt khoảng 6,8% so với kế hoạch năm 2026. Trong đó, 03 dự án cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký là 10.705,6 tỷ đồng và 02 dự án cấp mới trong khu công nghiệp với số vốn đăng ký là 195 tỷ đồng.
Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/01/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh đạt 177,08 triệu USD. Trong đó, cấp mới 09 dự án với tổng vốn đăng ký 161,2 triệu USD; có 05 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn bổ sung 15,88 triệu USD.
Về phát triển doanh nghiệp: Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 23/01/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp đạt 12.236 tỷ đồng, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, có 789 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (bao gồm 12 công ty cổ phần, 134 công ty TNHH hai thành viên trở lên và 643 công ty TNHH một thành viên), tăng 92,9%, với tổng vốn đăng ký khoảng 5.519 tỷ đồng; có 132 doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn khoảng 6.717 tỷ đồng.
Ngoài ra, có 272 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2025. Có 508 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,7%; đồng thời có 126 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện hoạt động trở lại, giảm 19,23% so với cùng kỳ.
Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 23/01/2026, toàn tỉnh có 150 doanh nghiệp giải thể, tăng 66,6% so với cùng kỳ; có 120 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, giảm 20,6%; đồng thời có 1.274 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giảm 0,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do một bộ phận doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, thiếu vốn hoạt động, chi phí nguyên vật liệu tăng cao, không cạnh tranh được trên thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân có năng lực quản trị hạn chế, thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành.
5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải
5.1. Thương mại dịch vụ
Do Tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02/2026, các hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải và du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong tháng 01 chưa ghi nhận mức tăng đột biến như các năm có Tết diễn ra trong tháng 01. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối tháng, thị trường hàng hóa phục vụ Tết đã bắt đầu xuất hiện những tín hiệu sôi động khi nhu cầu mua sắm các mặt hàng thiết yếu, lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng của người dân có xu hướng tăng. Các hệ thống bán lẻ lớn như Co.opmart, GO!, Lotte Mart, MM Mega Market đã chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ hàng hóa với mức tăng khoảng 35 – 40%, tập trung vào nhóm lương thực, thực phẩm thiết yếu; đồng thời triển khai các chương trình khuyến mãi, giảm giá theo từng giai đoạn, dự kiến tăng dần vào thời điểm cận Tết. Công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết được các đơn vị thực hiện chủ động, kịp thời, góp phần bảo đảm cân đối cung – cầu, ổn định giá cả và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 01/2026 ước đạt 40.500 tỷ đồng, tăng 2,57% so với tháng trước và tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo ngành hoạt động như sau:
- Bán lẻ hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 27.489,58 tỷ đồng, tăng 2,88% so với tháng trước và tăng 10,01% so với cùng kỳ. So với tháng trước, hầu hết các nhóm hàng bán lẻ đều ghi nhận mức tăng, trong đó: đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị gia đình tăng 4,21%; hàng may mặc tăng 3,73%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 3,68%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 3,26%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 3,25%; ô tô các loại tăng 3,23%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 2,67%; lương thực, thực phẩm tăng 2,52%; xăng, dầu các loại tăng 2,41%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,35%.
Nguyên nhân chủ yếu do tháng giáp Tết Nguyên đán, nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng của người dân tăng. Hoạt động bán lẻ diễn ra sôi động khi các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị và cơ sở kinh doanh chủ động dự trữ nguồn hàng, đồng thời triển khai các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Nhờ đó, doanh thu bán lẻ của hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với tháng trước.
- Doanh thu ngành lưu trú và ăn uống tháng 01/2026 ước đạt 5.168,27 tỷ đồng, tăng 2,02% so với tháng trước và tăng 20,76% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 106,83 tỷ đồng, tăng 1,07% so với tháng trước và tăng 25,23% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 4.173,11 tỷ đồng, tăng 2,05% so với tháng trước và tăng 20,64% so với cùng kỳ.
- Doanh thu ngành du lịch tháng 01/2026 ước đạt 42,87 tỷ đồng, tăng 0,96% so với tháng trước. Để chuẩn bị phục vụ nhu cầu du lịch, vui chơi, giải trí trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới, nhiều khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ.
- Doanh thu các ngành dịch vụ khác tháng 01/2026 ước đạt 7.799,22 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 25,01% so với cùng kỳ.
*Công tác theo dõi thị trường và chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán 2026:
Thực hiện Công văn số 12680/UBND-KTNS ngày 25/12/2025 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc triển khai các giải pháp bảo đảm cân đối cung – cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các sở, ngành và địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động xây dựng và triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trọng tâm là theo dõi sát diễn biến thị trường, đặc biệt đối với các mặt hàng thiết yếu có nhu cầu tiêu dùng tăng cao; đồng thời phối hợp với doanh nghiệp chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và kích cầu tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết.
Hiện nay, các địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã chủ động triển khai nhiều giải pháp chuẩn bị nguồn hàng phục vụ cao điểm thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, bảo đảm cân đối cung – cầu các mặt hàng thiết yếu. Hệ thống phân phối được duy trì đa dạng với chợ truyền thống, siêu thị và chuỗi cửa hàng tiện lợi; các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh xây dựng kế hoạch tăng dự trữ hàng hóa từ 5–15% so với ngày thường. Một số địa phương đã vận động các đơn vị tham gia đăng ký cung ứng hàng hóa thiết yếu và cam kết phối hợp thực hiện bình ổn thị trường.
Sở Công Thương tăng cường công tác khảo sát, nắm tình hình chuẩn bị hàng hóa phục vụ Tết; kêu gọi doanh nghiệp chủ động nguồn cung, ổn định giá cả và sẵn sàng điều tiết thị trường khi cần thiết. Các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực thực phẩm, chăn nuôi và xăng dầu đã xây dựng phương án dự trữ, bố trí nhân lực phù hợp, bảo đảm cung ứng hàng hóa ổn định trong dịp cao điểm Tết, góp phần giữ vững ổn định thị trường và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.
5.2. Giá cả thị trường
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2026 giảm 0,05% so với tháng trước, nhưng tăng 2,41% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm CPI trong tháng chủ yếu do giá nhiều mặt hàng rau, củ, quả giảm mạnh nhờ nguồn cung dồi dào và điều kiện thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, giá xăng dầu bình quân trong nước giảm theo xu hướng giá thế giới, góp phần làm giảm chi phí vận chuyển và sản xuất, qua đó kiềm chế mức tăng chung của CPI.
So với tháng trước, CPI giảm 0,05%, trong đó khu vực thành thị giảm 0,01%; khu vực nông thôn giảm 0,08%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 07 nhóm tăng giá và 04 nhóm giảm giá. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng cao nhất (+1,51%), làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu do thời điểm cận Tết, nhu cầu mua sắm làm quà biếu, tặng của các công ty, tổ chức tăng cao; đồng thời, giá nhiều mặt hàng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do chi phí nguyên liệu và vận chuyển tăng. Cụ thể, giá bia các loại tăng 1,54%; rượu, bia tăng 0,77%; nước khoáng và nước giải khát có ga tăng 3,34%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,15%, làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm. Mức tăng chủ yếu do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,66% khi nhu cầu sửa chữa, cải tạo nhà cửa vào dịp cuối năm tăng. Bên cạnh đó, giá điện sinh hoạt tăng 2,74% và giá nước sinh hoạt tăng 2,75% so với tháng trước; giá gas tháng 01 tăng 4,55% so với tháng trước…
Ở chiều ngược lại, nhóm giao thông giảm 2,23%, làm giảm 0,27% điểm phần trăm CPI chung, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo các đợt điều chỉnh trong tháng. Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,12% nhờ các chương trình khuyến mãi, giảm giá thiết bị công nghệ.
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 01/2026 tăng 2,41%, trong đó 08/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+5,6%); thấp nhất là thuốc và dịch vụ y tế (+0,65%). Có 03 nhóm giảm là giao thông (-5,42%); văn hoá, giải trí và du lịch (-1,26%) và thông tin và truyền thông (-0,62%).
Chỉ số giá vàng tháng 01 tăng 5,24% so với tháng trước và tăng 70,4% so với cùng kỳ năm trước. Giá vàng trong nước tiếp tục tăng cao và ghi nhận nhiều thời điểm thiết lập các mức kỷ lục mới, diễn biến tăng chủ yếu theo xu hướng của giá vàng thế giới do nhu cầu tích trữ vàng của người dân và nhà đầu tư gia tăng. Đồng thời, nguồn cung vàng miếng trong nước còn hạn chế, cùng với tâm lý kỳ vọng giá vàng tiếp tục tăng, góp phần duy trì mặt bằng giá vàng ở mức cao.
Chỉ số giá USD tháng 01 giảm 0,09% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá USD tăng 3,36%.
5.3. Giao thông vận tải
Trong tháng 01/2026, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh Đồng Nai duy trì ổn định, với doanh thu vận tải ước đạt 4.677,6 tỷ đồng, tăng 3,28% so với tháng trước và tăng 13,88% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng chủ yếu do nhu cầu vận chuyển hàng hóa, phục vụ tiêu dùng và đi lại của người dân tăng, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, việc khai thác và phát huy hiệu quả hạ tầng giao thông góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận tải ngay từ đầu năm. Cụ thể từng lĩnh vực vận tải như sau:
Doanh thu vận tải hành khách tháng 01/2026 ước đạt 660,2 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 8,6 triệu lượt hành khách, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 1,10% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách đạt 605,3 triệu HK.km, tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ.
Hoạt động vận chuyển hành khách tăng chủ yếu do nhu cầu đi lại, về quê và du lịch của người dân tăng trong dịp nghỉ Tết Dương lịch và giai đoạn cao điểm trước Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp vận tải chủ động tăng chuyến, đa dạng hóa dịch vụ; cùng với điều kiện hạ tầng giao thông ổn định và thời tiết thuận lợi, đã góp phần bảo đảm hoạt động vận chuyển diễn ra thông suốt.
Toàn tỉnh hiện có 363 đơn vị vận tải được cấp phép hoạt động, trong đó có 18 đơn vị vận tải hành khách bằng xe buýt, 26 đơn vị vận tải hành khách theo tuyến cố định và 11 đơn vị vận tải hành khách bằng taxi.
Vận tải hành khách theo tuyến cố định đang khai thác 332 tuyến, gồm 19 tuyến nội tỉnh và 313 tuyến liên tỉnh, với 664 đầu xe; thực hiện bình quân 17.266 chuyến/tháng. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có 20 tuyến với 256 phương tiện, thực hiện bình quân khoảng 1.090 chuyến/ngày. Lĩnh vực taxi hiện có 11 đơn vị đang hoạt động với 2.014 xe trên địa bàn tỉnh.
- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 01/2026 ước đạt 2.704,6 tỷ đồng, tăng 3,65% so tháng trước và tăng 15,17% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 10,6 triệu tấn, tăng 3,12% so tháng trước và 8,47% so cùng kỳ; Luân chuyển hàng hóa đạt 919,7 triệu tấn.km, tăng 3,02% so tháng trước và tăng 9,51% so cùng kỳ. Vận chuyển hàng hóa giữ đà tăng trưởng mạnh về cả doanh thu và sản lượng nhờ nhu cầu tiêu dùng và dự trữ hàng Tết tăng cao. Hoạt động sản xuất ổn định tại các khu công nghiệp cùng việc tăng tốc giao hàng đầu năm đã thúc đẩy lưu thông nguyên vật liệu và thành phẩm. Đặc biệt, nhu cầu vận chuyển vật liệu xây dựng cho các công trình trọng điểm quốc gia đang gấp rút hoàn thiện đã góp phần đáng kể vào sự sôi động của toàn ngành.
- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 01/2026 ước đạt 1.239,5 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước và tăng 16,02% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu do nhu cầu tập kết, dự trữ hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán gia tăng, cùng với hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu tại các khu công nghiệp diễn ra sôi động. Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ giao nhận hàng hóa và sự vận hành hiệu quả của hệ thống cảng, ICD đã làm gia tăng nhu cầu bốc xếp và lưu kho. Việc khai thác hiệu quả hạ tầng logistics góp phần nâng cao doanh thu và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lĩnh vực kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ngay từ đầu năm.
- Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 01/2026 ước đạt 38,6 tỷ đồng, tăng 3,48% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu do tháng cao điểm mua sắm và sự phát triển của thương mại điện tử, làm lượng đơn hàng online tăng mạnh, qua đó thúc đẩy doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát.
6. Tài chính, ngân hàng
a) Thu, chi ngân sách
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 01/2026 đạt 9.651 tỷ đồng[1], đạt 9,61% dự toán Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao, tăng 5,14% so cùng kỳ. Trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 8.912,47 tỷ đồng, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu nội địa ước đạt 8.170,55 tỷ đồng, tăng 7,35% so cùng kỳ; Thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 01/2026 ước đạt 740,48 tỷ đồng, gấp hơn 4 lần so cùng kỳ, trong đó thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.479 tỷ đồng, giảm 5,27%.
Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh tháng 01/2026 đạt 1.568,45 tỷ đồng, đạt 2,68% dự toán do Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao, bằng 33,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 805,9 tỷ đồng, bằng 62,34% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 762,56 tỷ đồng, bằng 22,60% so với cùng kỳ.
b) Hoạt động Ngân hàng
Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động đến ngày 31/01/2026 ước đạt 487.500 tỷ đồng, tăng 0,87% so với cuối năm 2025, nguồn vốn huy động chủ yếu là VND, chiếm 93,83%. Lãi suất huy động tăng trong tháng 01/2026 đã góp phần thu hút được lượng tiền gửi vào ngân hàng, là kênh đầu tư dẫn đầu về bảo đảm an toàn vốn cho người dân. Trong đó:
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế ước đạt 237.000 tỷ đồng, chiếm 48,61% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng 0,85% so với cuối năm 2025; tiền gửi dân cư ước đạt 247.000 tỷ đồng, chiếm 50,67%, tăng 0,8% so với cuối năm 2025; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 3.500 tỷ đồng, chiếm 0,72%, tăng 7% so với cuối năm 2025.
Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 31/01/2026 ước đạt 604.000 tỷ đồng, tăng 0,94% so với cuối năm 2025. Tín dụng tập trung chủ yếu vào các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Xây dựng; Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; Hoạt động dịch vụ khác.
II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI
- Đời sống dân cư, lao động, tiền lương: Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tập trung triển khai các hoạt động chăm lo Tết cho người dân, với tinh thần “mọi nhà đều có Tết, không ai bị bỏ lại phía sau", qua đó bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Trọng tâm là hỗ trợ người nghèo, người yếu thế, gia đình chính sách, người có công và trẻ em mồ côi; đồng thời bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời lương và thưởng Tết cho người lao động theo quy định.
Tình hình lương, thưởng của người lao động: Theo thống kê từ 6.672 doanh nghiệp có báo cáo lương với 961.269 lao động, hầu hết các doanh nghiệp đều trả lương cho người lao động bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng (Ngày 10/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 293/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026), quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ năm 2026); việc nâng lương, phụ cấp và các chế độ khác cho người lao động được thực hiện theo Quy chế nâng bậc lương, hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết của từng doanh nghiệp, theo đó: Đối với Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: Mức lương thực trả cao nhất là 57,20 triệu đồng/tháng, mức lương thực trả thấp nhất là 5,03 triệu đồng/tháng, mức lương bình quân là 15,50 triệu đồng/tháng; Đối với doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước: Mức lương thực trả cao nhất là 88,90 triệu đồng/tháng, mức lương thực trả thấp nhất là 7,20 triệu đồng/tháng, mức lương bình quân là 22,50 triệu đồng/tháng; Đối với doanh nghiệp dân doanh: Mức lương thực trả cao nhất là 409,00 triệu đồng/tháng, mức lương thực trả thấp nhất là 3,90 triệu đồng/tháng, mức lương bình quân là 7,30 triệu đồng/tháng; Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Mức lương thực trả cao nhất là 700,00 triệu đồng/tháng, mức lương thực trả thấp nhất là 4.90 triệu đồng/tháng, mức lương bình quân là 10,90 triệu đồng/tháng.
Công tác giải quyết việc làm – đào tạo nghề: Trong tháng 01/2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 2.104 lượt người, đạt 2,63% kế hoạch năm. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới đào tạo 959 học viên, đạt 1,68% kế hoạch năm, giảm 0,41% so với cùng kỳ. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ đạt 2.060 người, bằng 4,12% kế hoạch năm và giảm 1,41% so với cùng kỳ năm 2025.
* Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách người có công, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác
Trong tháng 01/2026, công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách, người có công, người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội được các cấp, các ngành triển khai kịp thời, đầy đủ, bảo đảm thực hiện đúng các chế độ, chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đối với những người có hoàn cảnh khó khăn. Công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho các gia đình chính sách, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm thực hiện chu đáo.
- Giáo dục, đào tạo: Ngành đã tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2025–2026, toàn tỉnh đạt 96 giải, gồm 01 giải nhất, 20 giải nhì, 29 giải ba và 46 giải khuyến khích. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, chuyển đổi số trong giáo dục và bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
Bên cạnh đó, ngành giáo dục và đào tạo triển khai thực hiện Kế hoạch hành động số 28-KH/TU ngày 11/12/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, bảo đảm tiến độ và yêu cầu đề ra.
Hoạt động Y tế: Trong tháng, ngành y tế tăng cường theo dõi, giám sát và cập nhật sát tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh để kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống. Trong tháng ghi nhận Sốt xuất huyết: 517 ca mắc (trong đó, tổng số ca mắc trẻ ≤ 15T là 216 ca, chiếm tỷ lệ 41,78%); số ca mắc giảm 4,79% so với cùng kỳ năm 2025 (543 ca). Số ca tử vong là 03 ca, tăng 03 ca so với cùng kỳ năm 2025 (0 ca). Tổng số ổ dịch được phát hiện 190, tăng 106,52% so với cùng kỳ; tỷ lệ ổ dịch xử lý trong toàn tỉnh đạt 89,19% (190 ổ dịch được xử lý/190 ổ dịch phát hiện).
+ Tay, chân, miệng 710 ca mắc, tăng 7.17 lần so với cùng kỳ 2025 (99 ca). Số ca tử vong là 01 ca, tăng 01 ca so với cùng kỳ năm 2025 (0 ca). Sốt phát ban nghi sởi 09 ca, giảm 1512 ca (99,4%) so với cùng kỳ 2025
- Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Trong tháng, toàn tỉnh ghi nhận 09 ca dương tính (trong đó có 05 ca được kết nối điều trị), giảm 48% so với cùng kỳ 2025 (23 ca); tổng số bệnh nhân đang điều trị trên toàn tỉnh: 6.812 bệnh nhân.
- Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm: Tiếp tục thực hiện tốt chỉ đạo của UBND tỉnh về tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh cho các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ ăn uống và kinh doanh tiêu dùng thực phẩm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026 sắp đến. Trong tháng, toàn tỉnh không ghi nhận trường hợp ngộ độc thực phẩm.
- Hoạt động văn hóa: Công tác tuyên truyền, cổ động trực quan: Trong tháng, ngành văn hóa tổ chức và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, cổ động trực quan mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Trong tháng, tổ chức 29 buổi biểu diễn, phục vụ khoảng 17.600 lượt người xem, gồm: 15 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị; 08 buổi biểu diễn livestream các chương trình ca múa nhạc tổng hợp và trích đoạn cải lương tại Nhà hát Nghệ thuật Đồng Nai; 06 buổi biểu diễn hai vở cải lương “Cải quốc chấn hưng" và “Hồi chuông" trong Chương trình Mừng Đảng – Mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại các địa phương.