Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế xã hội tháng 02 năm 2026

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng 02/2026 trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào gieo trồng và chăm sóc lúa vụ Đông Xuân cùng các loại cây hoa màu. Chăn nuôi tiếp tục phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng trong mùa khô. 

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào gieo trồng cây lúa và các loại cây hoa màu vụ Đông Xuân. Tính đến ngày 20/02/2026, diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân trên địa bàn tỉnh ước đạt 43.155,04 ha, giảm 45,62 ha (-0,11%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Diện tích lúa ước đạt 17.607,99 ha, giảm 14,79 ha (-0,08%). Diện tích các loại cây trồng khác như: Diện tích bắp ước đạt 9.677,50 ha, tăng 52,77 ha (+0,55%); Diện tích cây lạc ước đạt 357,65 ha, tăng 4,18 ha (+1,18%); Diện tích rau các loại ước đạt 6.109,05 ha, tăng 20,65 ha (+0,34%). Nhu cầu tiêu thụ cũng như mức giá bán của các sản phẩm trên duy trì ổn định, tạo tâm lý an tâm cho người nông dân khi sản xuất. Ở chiều ngược lại, diện tích khoai lang ước đạt 92,10 ha, giảm 3,7 ha (-3,86%); Diện tích cây đậu tương ước đạt 109,56 ha, giảm 1,68 ha (-1,51%); Diện tích đậu các loại ước đạt 1.110,99 ha, giảm 18,10 ha (-1,6%) và diện tích các loại cây còn lại ước đạt 8.090,21 ha, giảm 84,94 ha (-1,04%).

Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 02/2026 là 3.990.210 con, tăng 90.027 con (+2,31%) so cùng kỳ. Trong đó: Trâu 16.652 con, tăng 167 con (+1,01%); Bò 147.046 con, tăng 1.194 con (+0,82%). Đàn lợn 3.826.512 con (không tính heo con chưa tách mẹ), tăng 88.666 con (+2,37%) so cùng kỳ. Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 02/2026 là 35.963,53 ngàn con, tăng khoảng 975,68 ngàn con (+2,79%) so cùng kỳ; trong đó đàn gà đạt 32.679,42 ngàn con, tăng 952,91 ngàn con (+3,00%) so cùng kỳ và chiếm 90,87% tổng đàn gia cầm. Đàn gà tăng nhờ nhu cầu ổn định đối với thịt gà và trứng; công tác tiêm phòng, giám sát dịch bệnh thực hiện chặt chẽ, hạn chế ảnh hưởng của cúm và các bệnh truyền nhiễm, tạo điều kiện mở rộng quy mô nuôi.

b) Lâm nghiệp

- Công tác khai thác gỗ và lâm sản: Trong tháng 02/2026 sản lượng gỗ khai thác dự ước đạt 41.510 m3 tăng 1.223 m3 (+3,04%) so cùng kỳ, nguyên nhân tăng là do diện tích rừng sản xuất đến kỳ thu hoạch và một số diện tích khai thác tận thu dự án chuyển đổi quy hoạch.

- Công tác Phòng, chống cháy rừng: Đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngành lâm nghiệp trong mùa khô. Các đơn vị chức năng tăng cường hướng dẫn, đôn đốc địa phương và chủ rừng trực sẵn sàng lực lượng, phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng; kiểm tra các khu vực có nguy cơ cháy cao; tổ chức chữa cháy, cứu nạn cứu hộ kịp thời, bảo đảm an toàn. Đồng thời, thường xuyên theo dõi hệ thống cảnh báo cháy rừng, xác minh các điểm nghi cháy ngoài thực địa để có biện pháp xử lý phù hợp.

c) Thủy sản

Trong tháng 02/2026, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định. Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 02/2026 đạt 7.107,10 tấn, tăng 312,21 tấn (+4,59%). Trong đó: Cá trong tháng ước đạt 6.162,75 tấn, tăng 271,47 tấn (+4,61%) so cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng thu hoạch cá tra công nghiệp ước đạt 529,08 tấn, tăng 24,66 tấn (+4,89%); Tôm trong tháng ước đạt 771,74 tấn, tăng 35,41 tấn (+4,81%) so cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng thu hoạch tôm sú ước đạt 121,26 tấn, tăng 3,66 tấn (+3,11%); tôm thẻ chân trắng ước đạt 649,73 tấn, tăng 26,66 tấn (4,28%); Thủy sản khác trong tháng ước đạt 172,61 tấn, tăng 5,33 tấn (+3,19%) so cùng kỳ.

​2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 02 năm 2026, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục nỗ lực tìm kiếm và mở rộng thị trường nhằm tạo dư địa tăng trưởng mới; ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều doanh nghiệp tập trung sản xuất các đơn hàng đầu năm nhằm bù đắp thời gian nghỉ lễ kéo dài.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02 năm 2026 ước giảm 6,48% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng giảm 4,73%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,14%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 13,92%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,44%. Mức giảm chủ yếu do yếu tố thời vụ khi tháng 02 trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày làm việc ít hơn so với tháng trước. Tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm trước và tính chung 02 tháng đầu năm, hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực.

So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02 năm 2026 ước tăng 17,31%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 18,91%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,52%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 39,40%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,99%. Luỹ kế chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 02 tháng đầu năm so với cùng kỳ, ước tăng 13,85%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 12,10%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,37%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 59,06%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,60%.

Trong mức tăng chung của toàn ngành, ngành sản xuất và phân phối điện ghi nhận mức tăng trưởng cao, trở thành nhân tố đóng góp quan trọng khi các nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 chính thức đi vào vận hành thương mại từ cuối năm 2025, bổ sung đáng kể nguồn cung điện cho hệ thống. Việc gia tăng công suất phát điện không chỉ làm tăng mạnh giá trị sản xuất của ngành điện mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, tạo nền tảng quan trọng cho hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp tỷ trọng lớn vào mức tăng chung của chỉ số sản xuất toàn ngành. Các ngành chủ lực như điện tử, chế biến gỗ, dệt may, da giày, sản phẩm kim loại và sản phẩm từ cao su – plastic duy trì đà phục hồi, đơn hàng xuất khẩu cải thiện, công suất hoạt động được nâng lên. Sự phục hồi của khu vực này phản ánh xu hướng dịch chuyển đơn hàng và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu theo hướng ổn định và đa dạng hóa thị trường, trong đó Đồng Nai tiếp tục là điểm đến quan trọng của các nhà đầu tư và tập đoàn sản xuất.

Hầu hết ở các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức giảm so với tháng trước, trong đó một số ngành như: sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 17,23%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 12,41%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 13,92%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 8,79%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 8,75%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 8,49%...

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 59,05%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 55,05%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 39,40%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 37,37%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 35,84%; Sản xuất kim loại tăng 34,50%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,61%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 26,71%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 23,86%... Bên cạnh đó, một số ngành có mức tăng thấp hơn như: Dệt giảm 3,43%; Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 1,78%; Sản xuất trang phục tăng 5,94%…

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng 02 có mức giảm sâu so với tháng trước như: Sợi các loại giảm 31,84%; Thuốc lá sợi giảm 20,99%; Điện sản xuất giảm 16,82%; Sơn các loại giảm 10,08%; Bao bì các loại giảm 9,85%... Hoạt động sản xuất trong tháng 2/2026 giảm so với tháng trước ở nhiều ngành chủ yếu do yếu tố số ngày làm việc giảm sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và doanh nghiệp tập trung tiêu thụ hàng tồn kho từ tháng trước.

 Tháng 02 năm 2026, Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước phải kể đến như: Điện sản xuất tăng 82,85%; Bột ngọt (Mỳ chính) tăng 33,57%; Mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 23,57%; Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 17,96%; Thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 17,62%; Bao bì các loại tăng 17,56%... Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều mặt hàng chủ lực gặp khó khăn trong khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cụ thể: Cà phê các loại giảm 8,17%; Vải các loại giảm 2,70%; Sợi các loại tăng 1,03%; Sơn các loại tăng 0,81%…

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 02 năm 2026 giảm 10,68% so với tháng trước và tăng 8,89% so với tháng cùng kỳ. Nhiều ngành công nghiệp tiêu thụ ổn định, góp phần thúc đẩy chỉ số chung 2 tháng đầu năm 2026 tăng 17,02% so cùng kỳ, kết quả này cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đang ở trạng thái rất tích cực, trong đó các nhóm ngành đạt mức tiêu thụ cao phải kể đến như: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 82,80%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 60,09%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 53,10%; Sản xuất kim loại tăng 50,03%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 39,03%; Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,99%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,73%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 33,53%…

Nhu cầu thị trường được cải thiện, kết hợp với năng lực sản xuất được củng cố, đã giúp doanh nghiệp vừa bảo đảm tiến độ giao hàng cho đối tác, vừa duy trì sản lượng ổn định. Mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ ngày càng chặt chẽ, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng trong các tháng cuối năm và thời gian tới.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 02/2026 giảm 4,08% so với cùng kỳ năm trước, Chỉ số sử dụng lao động 02 tháng đầu năm 2026 giảm so cùng kỳ là do tháng 2/2026 trùng vào tháng Tết nguyên đán Bính Ngọ lao động các tỉnh miền Trung và phía Bắc đã về quê ăn Tết, do đó chỉ số của toàn ngành có mức giảm so cùng kỳ tập trung chủ yếu ở các các ngành da giày, may mặc.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2026 tăng 4,91% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 46,27%; Sản xuất thuốc lá tăng 34,19%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 21,52%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 8,43%…

Tỷ lệ tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02 năm 2026 ước tăng 47,38% so với tháng cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu xuất phát từ chiến lược chủ động dự trữ hàng hóa của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.

Nhiều đơn vị lựa chọn phương án tập kết hàng hóa, chờ đủ số lượng theo từng lô lớn trước khi xuất khẩu nhằm tối ưu chi phí logistics, đáp ứng tiến độ giao hàng theo hợp đồng và chủ động ứng phó với biến động của thị trường quốc tế. Do đó, việc tồn kho tăng không phản ánh tình trạng tiêu thụ chậm, mà thể hiện sự chuẩn bị tích cực về nguồn hàng để đáp ứng các đơn hàng lớn trong giai đoạn cuối năm và đầu năm tiếp theo nhất là trong thời điểm tháng Tết Nguyên đán Bính Ngọ.

Nhìn chung, trong 02 tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai duy trì xu hướng tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ số sản xuất công nghiệp của phần lớn các ngành đều tăng, phản ánh tín hiệu phục hồi tích cực của hoạt động sản xuất ngay từ đầu năm.

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

Năm 2026, tỉnh Đồng Nai tập trung triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp và tập đoàn lớn trong và ngoài nước đến đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Trong tháng 02/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.126,44 tỷ đồng, giảm 11,76% so với tháng trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 5,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 875,98 tỷ đồng, giảm 11,78% so với tháng trước và giảm 17,45% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 250,46 tỷ đồng, giảm 11,70% so với tháng trước và luỹ kế 2 tháng đầu năm tăng 133 lần so với cùng kỳ năm 2025.

Xét theo cơ cấu nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tháng 02 năm 2026, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 716,22tỷ đồng; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 26,39 tỷ đồng; vốn từ nguồn xổ số kiến thiết ước đạt 109,36 tỷ đồng. Mức thực hiện của các nguồn vốn này so với kế hoạch được giao lần lượt đạt 9,35%; 6,80% và 8,20%.

Tình hình vốn đầu tư thực hiện của một số công trình lớn, trọng điểm năm 2026:

- Dự án xây dựng đường ven sông Cái đoạn từ đường Hà Huy Giáp đến đường Trần Quốc Toản là công trình trọng điểm dài 4,6 km. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 100 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 02/2026 là 5,5 tỷ đồng.

- Dự án nâng cấp đường 25B có tổng chiều dài hơn 9,2km nhằm kết nối Nhơn Trạch với Sân bay Long Thành và các tuyến giao thông quan trọng khác như cao tốc Bến Lức - Long Thành, Vành đai 3 TPHCM, giúp giảm tải cho QL51 và cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 300 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 02/2026 là 4,7 tỷ đồng.

- Dự án Nạo vét và Kè 2 bờ Suối Reo là dự án trọng điểm nhằm nạo vét lòng suối, kè bê tông cốt thép, xây dựng hành lang bảo vệ (lan can, đường giao thông) trên đoạn 6.5km nhằm giải quyết ngập úng, ô nhiễm môi trường, lấn chiếm bờ suối. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 120 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 02/2026 là 9,8 tỷ đồng.

- Dự án xây dựng đường phía Tây QL13 kết nối Bàu Bàng là dự án hạ tầng giao thông quan trọng nhằm giảm tải cho QL13 hiện hữu, đặc biệt là hướng tới cửa khẩu Hoa Lư. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 215 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 02/2026 là 8,7 tỷ đồng.

- Dự án nâng cấp, mở rộng ĐT.753 và xây dựng cầu Mã Đà kết nối với sân bay quốc tế Long Thành Đồng Nai và cảng Cái Mép, Thị Vải Bà Rịa Vũng Tàu. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 196 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện trong tháng 02/2026 là 6,0 tỷ đồng…

4. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 23/02/2026, tổng vốn đầu tư trong nước trên địa bàn tỉnh (trong và ngoài các khu công nghiệp) đạt 15.383,52 tỷ đồng, bằng khoảng 9,6% kế hoạch năm 2026. Trong đó, cấp mới 09 dự án với tổng vốn đăng ký 12.193,85 tỷ đồng; 04 dự án điều chỉnh tăng vốn với số vốn bổ sung 3.189,67 tỷ đồng.

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 23/02/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh đạt 752 triệu USD. Trong đó, cấp mới 20 dự án với tổng vốn đăng ký 303,97 triệu USD; có 15 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn bổ sung 448,03 triệu USD.

Về phát triển doanh nghiệp: Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 15/02/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp đạt 22.078 tỷ đồng. Trong đó, có 1.371 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 136,3% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký khoảng 9.173 tỷ đồng, tăng 43,8% so cùng kỳ; 260 doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn khoảng 12.905 tỷ đồng. Ngoài ra, có 514 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh, tăng 160,9% so với cùng kỳ; 565 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Trong nữa đầu tháng 02/2026, có 96 doanh nghiệp giải thể và 64 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/02/2026, toàn tỉnh có 284 doanh nghiệp giải thể, tăng 113,5% so với cùng kỳ; 218 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 63,9%; 1.306 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giảm 1,5% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do một bộ phận doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, thiếu vốn hoạt động, chi phí nguyên vật liệu tăng cao, không cạnh tranh được trên thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân có năng lực quản trị hạn chế, thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành dẫn tới kinh doanh không hiệu quả.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 02/2026 trùng với dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, tập trung vào các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, đồ uống, hàng may mặc và quà biếu Tết. Nguồn cung hàng hóa được các doanh nghiệp, siêu thị và chợ truyền thống chủ động chuẩn bị đầy đủ, bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trước, trong và sau Tết, không để xảy ra tình trạng khan hàng hoặc tăng giá đột biến. Bên cạnh đó, các hoạt động vui chơi, giải trí, tham quan du lịch trong dịp Tết diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng doanh thu thương mại và dịch vụ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02/2026 ước đạt 39.772,8 tỷ đồng, tăng 3,92% so tháng trước và tăng 27,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 78.046,3 tỷ đồng, tăng 20,76% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 18,57%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 23,75%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 37,18% và doanh thu dịch vụ khác tăng 26,26%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02/2026 ước đạt 26.271,5 tỷ đồng, tăng 4,01% so tháng trước và tăng 28,14% so cùng kỳ. Tính chung hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 51.530,3 tỷ đồng, chiếm 66% tổng mức và tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị gia đình tăng 22,23%; xăng, dầu các loại tăng 20,21%; hàng may mặc tăng 19,86%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 17,79%; lương thực, thực phẩm tăng 16,65%; ô tô các loại tăng 15,63%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 15,49%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,99%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 14,49%,.…

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 02/2026 ước đạt 5.368,3 tỷ đồng, tăng 3,61% so tháng trước và tăng 26,46% so cùng kỳ. Tính chung hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 10.549,5 tỷ đồng, chiếm 13,5% tổng mức và tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 25,43%; dịch vụ ăn uống tăng 23,7%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 02/2026 ước đạt 44,8 tỷ đồng, tăng 4,79% so tháng trước và tăng 36,18% so cùng kỳ. Tính chung hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 87,6 tỷ đồng, chiếm 0,1% tổng mức và tăng 37,18% so với cùng kỳ. Mức tăng cao so cùng kỳ do tháng 02/2026 trùng dịp Tết Nguyên Đán có thời gian nghỉ dài (9 ngày) nên nhu cầu tham quan, du xuân và nghỉ dưỡng của người dân tăng cao, bên cạnh đó hoạt động du lịch trên địa bàn tiếp tục phát triển tác động tích cực đến các ngành dịch vụ liên quan như lưu trú, ăn uống, vận tải và vui chơi, giải trí.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 02/2026 ước đạt 8.088,24 tỷ đồng, tăng 3,82% so tháng trước và tăng 27,61% so cùng kỳ. Tính chung hai tháng ước đạt 15.878,9 tỷ đồng, chiếm 20,4% tổng mức và tăng 26,26% so với cùng kỳ.

b) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2026 tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; bình quân hai tháng đầu năm 2026 tăng 2,81% so với cùng kỳ. Mức tăng CPI trong tháng chủ yếu do tháng 02/2026 trùng với dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của người dân tăng cao, đặc biệt ở nhóm hàng lương thực, thực phẩm, các dịch vụ vui chơi, giải trí. Bên cạnh đó, trong tháng giá xăng dầu và gas được điều chỉnh tăng theo biến động giá thế giới, làm chi phí vận chuyển và sản xuất tăng, qua đó tác động làm CPI tăng trong tháng.

Trong mức tăng 1,17% của CPI tháng 02/2026 so với tháng trước, có 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá tăng và 01 nhóm có chỉ số giá giảm; trong đó, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng cao nhất với mức tăng 2,86%, làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua sắm làm quà biếu của các cơ quan, doanh nghiệp và người dân tăng mạnh trong dịp Tết; đồng thời giá một số mặt hàng năm nay cao hơn cùng kỳ do chi phí nguyên liệu đầu vào và giá vận chuyển tăng. Cụ thể, giá bia, rượu các loại tăng 4,71%; nước khoáng và nước có gas tăng 1,28%; thuốc lá tăng 1,27%.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,03% so với tháng trước, đóng góp 0,75 điểm phần trăm vào mức tăng chung của CPI. Trong đó, lương thực tăng 1,57%; thực phẩm tăng 1,9%; dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 2,45% do nhu cầu dịp Tết tăng cao.

Nhóm giao thông tăng 1,05%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm vào CPI chung, chủ yếu do giá xăng, dầu bình quân trong tháng điều chỉnh tăng theo biến động giá thế giới, làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,91%. Bên cạnh đó, nhu cầu đi lại của người dân tăng cao trong dịp Tết làm cho giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 8,44%, trong đó vận tải hành khách đường hàng không tăng 21,07%, vận tải hành khách đường bộ tăng 4,73%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có mức tăng nhẹ, dao động từ 0,01% đến 0,88%.

Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,05% so với tháng trước. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so tháng trước.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 02/2026 tăng 3,2%, trong đó 08/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+6,3%); thấp nhất là thuốc và dịch vụ y tế (+0,72%). Có 03 nhóm giảm là giao thông (-4,89%); văn hoá, giải trí và du lịch (-1,99%) và thông tin và truyền thông (-0,56%).

Chỉ số giá bình quân 02 tháng đầu năm 2026 tăng 2,81% so cùng kỳ. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức tăng 5,95%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,8%, đồ uống và thuốc lá tăng 4,72%, đồ dùng và dịch vụ khác tăng 4,41%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,03%, giáo dục tăng 1,86%, may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,59%, thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,69%. Có 03 nhóm chỉ số giá giảm là giao thông giảm 5,15%, bưu chính viễn thông giảm 0,59%, văn hoá giải trí và du lịch giảm 1,62%.

- Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng trong nước tiếp tục biến động mạnh theo xu hướng của giá vàng thế giới, tăng 11,45% so với tháng trước và tăng 82,54% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 02 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 76,37% so với cùng kỳ. Thị trường vàng tiếp tục là yếu tố tác động lớn đến biến động giá tiêu dùng trong nước.

- Chỉ số giá USD tháng 02 giảm 0,9% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,67%, Bình quân 2 tháng chỉ số giá USD tăng 3,01%.

5.3. Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải tháng 02/2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, tổng doanh thu ước đạt 4.799 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 27,86% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải, bưu chính chuyển phát ước đạt 9.457 tỷ đồng, tăng 20,31% so với cùng kỳ. Mức tăng chủ yếu do nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán, cùng với việc khai thác hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh.  Cụ thể từng lĩnh vực vận tải như sau:

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 02/2026 ước đạt 766 tỷ đồng tăng 15,88% so tháng trước và tăng 24,23% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 9,8 triệu lượt hành khách, tăng 13,13% so tháng trước và 17,54% so cùng kỳ. Luân chuyển hành khách đạt 711,2 triệu HK.km, tăng 14,37% so tháng trước và 22,15% so cùng kỳ.

Lũy kế 02 tháng doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.426 tỷ đồng tăng 14,54% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hành khách đạt 18,4 triệu lượt hành khách, tăng 9,57% và luân chuyển hành khách ước đạt 1.333 triệu HK.km, tăng 13,17% so cùng kỳ. Nhu cầu đi lại, về quê và du lịch trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao đã góp phần thúc đẩy hoạt động vận tải hành khách. Các doanh nghiệp vận tải chủ động tăng chuyến, đa dạng hóa dịch vụ, góp phần đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân.

- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 02/2026 ước đạt 2.629 tỷ đồng, giảm 3,35% so tháng trước và tăng 21,93% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 9,7 triệu tấn, giảm 4,48% so tháng trước và tăng 10,87% so cùng kỳ; Luân chuyển hàng hóa đạt 883,8 triệu tấn.km, giảm 2,96% so tháng trước và tăng 17,63% so cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, nhiều doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất nên nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu giảm. Tuy nhiên, việc duy trì thi công các công trình trọng điểm đã góp phần giữ mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước

Tính chung 02 tháng năm 2026, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.349 tỷ đồng tăng 17,97% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển ước đạt 19,9 triệu tấn, tăng 7,09%; luân chuyển ước đạt 1.794,5 triệu tấn.km, tăng 12,78% so cùng kỳ.

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 02/2026 ước đạt 1.362 tỷ đồng, tăng 9,94% so tháng trước và 43,14% so cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng ước đạt 2.601 tỷ đồng, tăng 28,77% so cùng kỳ. Nhu cầu tập kết, lưu trữ hàng hóa phục vụ Tết và hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu tại các khu công nghiệp tăng cao đã thúc đẩy hoạt động kho bãi và dịch vụ logistics phát triển.

- Doanh thu dịch vụ bưu chính chuyển phát tháng 02/2026 ước đạt 42 tỷ đồng, tăng 8,36% so tháng trước và 44,12% so cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng ước đạt 80 tỷ đồng, tăng 31,96% so cùng kỳ. Sự phát triển của thương mại điện tử và nhu cầu mua sắm trực tuyến trong dịp Tết là yếu tố chính thúc đẩy hoạt động bưu chính, chuyển phát tăng mạnh.

6. Tài chính, ngân hàng

a) Thu, chi ngân sách

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh 02 tháng đầu năm 2026 đạt 23.064,1 tỷ đồng, đạt 22,97% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 36,27% so cùng kỳ. Trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 19.553,3 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 19.753,7 tỷ đồng, tăng 45,37% so cùng kỳ. Một số khoản thu chủ yếu như sau: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 1.727,8 tỷ đồng, tăng 29,56%; Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.132,4 tỷ đồng, tăng 36,92%; Thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 3.266,7 tỷ đồng, tăng 45,39%; Thuế thu nhập cá nhân 1.819,5 tỷ đồng, giảm 16,56%; Các khoản thu về nhà, đất 3.685,5 tỷ đồng, gấp gần 4 lần so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 02 tháng đầu năm 2026 đạt 9.085,3 tỷ đồng, đạt 15,46% dự toán HĐND tỉnh giao, giảm 39,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 5.281,8 tỷ đồng, giảm 50,47%; chi thường xuyên đạt 3.801,4 tỷ đồng, giảm 11,51% so với cùng kỳ. Chi đầu tư phát triển đầu năm chưa phát sinh nhiều, các dự án chuyển tiếp từ năm 2025 đang tiếp tục triển khai nhưng tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, gặp vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chưa hoàn tất thủ tục đầu tư và chưa được phân bổ chi tiết kế hoạch vốn do Trung ương giao.

b) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến ngày 28/02/2026 ước đạt 487.000 tỷ đồng, tăng 0,76% so với cuối năm 2025; trong đó nguồn vốn huy động chủ yếu bằng VND, chiếm 94,05% tổng nguồn vốn huy động. Việc lãi suất huy động tăng trong tháng 02/2026 đã góp phần thu hút lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, tiếp tục khẳng định đây là kênh đầu tư an toàn đối với người dân. Trong đó: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế ước đạt 232.300 tỷ đồng, chiếm 47,7% trên tổng nguồn vốn huy động, giảm 1,15% so với cuối năm 2025; tiền gửi dân cư ước đạt 250.200 tỷ đồng, chiếm 51,37%, tăng 2,11%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 4.500 tỷ đồng, chiếm 0,92%, tăng 0,44% so với cuối năm 2025.

Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân phổ biến ở mức 0,1 - 0,3%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; mức 4,6 -  4,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; mức 5,4 - 6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; mức 6,1 - 6,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng. Hiện lãi suất tiền gửi USD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 28/02/2026 ước đạt 601.000 tỷ đồng, tăng 0,44% so với cuối năm 2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 365.300 tỷ đồng, chiếm 60,78% trên tổng dư nợ, giảm 0,16%; dư nợ cho vay trung, dài hạn ước đạt 235.700 tỷ đồng, chiếm 39,22%, tăng 1,4% so với cuối năm 2025.

Tín dụng tập trung chủ yếu vào các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Xây dựng; Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; Hoạt động dịch vụ khác. Tính đến ngày 31/01/2026, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thực hiện cho vay lĩnh vực nông, lâm, thủy sản với tổng doanh số giải ngân lũy kế từ đầu chương trình đạt 6.448 tỷ đồng; dư nợ đạt 3.460 tỷ đồng, giảm 0,05% so với cuối năm 2025, với 2.054 lượt khách hàng vay.

Lãi suất cho vay VND ngắn hạn trên địa bàn tỉnh phổ biến ở mức 6,4 - 9,2%/năm; lãi suất cho vay trung, dài hạn phổ biến ở mức 7,8 - 10,2%/năm. Hiện lãi suất cho vay USD ngắn hạn phổ biến ở mức 4,2 - 5,1%/năm.

II. MỘT SỐ TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư, lao động, tiền lương

Trong tháng 02/2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định và có bước cải thiện, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động; nhu cầu tiêu dùng tăng cao đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, góp phần tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Thị trường lao động cơ bản ổn định; tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ sau Tết nhanh chóng được khắc phục, người lao động trở lại làm việc đúng tiến độ, bảo đảm kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.

Chính sách tiền lương, tiền thưởng và các chế độ phúc lợi được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời. Trong dịp Tết, đa số người lao động được chi trả lương, thưởng và các khoản hỗ trợ đúng thời hạn; một số doanh nghiệp có mức thưởng cao hơn năm trước, thể hiện sự chia sẻ và đồng hành cùng người lao động.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm tiếp tục được đẩy mạnh; hoạt động đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng cho người lao động được quan tâm triển khai. Các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện đúng quy định, góp phần bảo đảm quyền lợi và an sinh cho người lao động.

Chính sách an sinh xã hội, chăm lo người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục được triển khai kịp thời, đầy đủ. Công tác thăm hỏi, tặng quà dịp Tết được tổ chức chu đáo, đúng đối tượng, góp phần ổn định đời sống nhân dân, củng cố niềm tin và giữ vững an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

Công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề: Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 1.704 lượt người, đạt 3,8% kế hoạch năm. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới đào tạo 959 học viên, đạt 1,68% kế hoạch năm, giảm 0,41% so với cùng kỳ. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ đạt 2.060 người, bằng 4,12% kế hoạch năm và giảm 1,41% so với cùng kỳ năm 2025.

2. Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách người có công, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác

Hiện nay, toàn tỉnh đang quản lý 84.975 hồ sơ, trong đó có 77.286 hồ sơ người có công và thân nhân người có công, cùng 7.671 hồ sơ hưởng trợ cấp một lần theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong tháng 02/2026, Sở Nội vụ đã thực hiện và điều chỉnh thông tin đối với 141 hồ sơ, giảm 06 hồ sơ so với tháng trước; công tác quản lý hồ sơ được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm cập nhật kịp thời, đúng quy định.

Việc chi trả trợ cấp hằng tháng cho các đối tượng chính sách được thực hiện đầy đủ, chính xác và đúng thời gian. Lũy kế đến hết tháng 02/2026, toàn tỉnh đã chi trả cho 26.070 lượt người với tổng kinh phí hơn 49,5 tỷ đồng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống nhân dân.

Thực hiện chính sách quà Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, triển khai đồng bộ, bảo đảm hoàn thành chi trả trước kỳ nghỉ Tết. Từ nguồn ngân sách Trung ương, đã chi trả quà của Chính phủ theo Nghị quyết số 418/NQ-CP cho 20.891 người (hơn 8,3 tỷ đồng) và quà của Chủ tịch nước cho 22.265 người (6,78 tỷ đồng). Từ nguồn ngân sách địa phương, đã thực hiện chi trả quà Tết theo Nghị quyết số 26/2025/NQ-HĐND cho 31.267 đối tượng với tổng kinh phí hơn 36,5 tỷ đồng. Việc bảo đảm nguồn kinh phí và tiến độ chi trả trong giai đoạn cao điểm Tết đã góp phần động viên tinh thần, ổn định đời sống các gia đình chính sách và người có công.

Nhìn chung, công tác chăm lo đối tượng chính sách, người có công, người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội trong tháng được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh.

3. Giáo dục, đào tạo

Trong tháng, hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được triển khai theo kế hoạch năm học 2025–2026, tập trung thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới và nâng cao chất lượng dạy và học. Ngành Giáo dục tiếp tục tăng cường công tác quản lý, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong quản lý và giảng dạy.

Trong tháng, tổ chức Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh với 120 giải thưởng (12 giải Nhất, 35 giải Nhì, 35 giải Ba, 38 giải Tư). Kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2025–2026 có 4.790/8.017 học sinh đạt giải. Bên cạnh đó, ngành đã tham mưu phương án tuyển sinh lớp 10 năm học 2026–2027.

Công tác cải cách hành chính và chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh, tăng cường truyền thông chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

4. Hoạt động Y tế

Trong tháng, ngành y tế tăng cường theo dõi, giám sát và cập nhật tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống, không để dịch bùng phát diện rộng. Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc, vật tư và hóa chất phục vụ phòng, chống dịch được bảo đảm.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

- Sốt xuất huyết: Ghi nhận 841 ca mắc, tăng 62,67% so với tháng trước và tăng 12,13% so cùng kỳ; trong đó trẻ ≤15 tuổi chiếm 43,52%. Lũy kế 2 tháng đầu năm có 1.358 ca, tăng 5,03% so với cùng kỳ năm 2025. Dịch bệnh có xu hướng gia tăng, cần tiếp tục tăng cường giám sát và xử lý ổ dịch.

- Tay, chân, miệng: Ghi nhận 844 ca mắc, tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 726 ca). Lũy kế 2 tháng đầu năm 1.568 ca, tăng 7,2 lần so với cùng kỳ năm 2025.

- Sốt phát ban nghi sởi: Ghi nhận 09 ca, bằng tháng trước và giảm 2.143 ca so cùng kỳ. Lũy kế 2 tháng là 18 ca, giảm 99,5% so với cùng kỳ.

- Bệnh dại: Trong tháng ghi nhận 04 ổ dịch, giảm 02 ổ so tháng trước. Lũy kế 2 tháng ghi nhận 10 ổ dịch tại 09/95 xã, phường, tăng 09 ổ so cùng kỳ năm 2025; nguy cơ lây lan còn tiềm ẩn, cần tăng cường tiêm phòng.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát; tuy nhiên, một số bệnh như sốt xuất huyết và tay chân miệng có xu hướng gia tăng, ngành y tế tiếp tục chủ động các phương án phòng, chống, đẩy mạnh truyền thông và giám sát cộng đồng nhằm hạn chế thấp nhất số ca mắc và tử vong.

- Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm, tình hình an toàn thực phẩm cơ bản được kiểm soát; công tác quản lý an toàn thực phẩm được tăng cường trong cao điểm Tết và mùa lễ hội.

5) Hoạt động văn hóa

Trong tháng, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Tập trung tuyên truyền các nội dung: Đại hội Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và bầu cử. Đồng thời, thiết kế maket, pa-nô, băng rôn tuyên truyền các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị của tỉnh.

Ngành Văn hóa tổ chức thành công Chương trình “Xuân Biên giới" tỉnh Đồng Nai năm 2026; các hoạt động dâng hương tại đài tưởng niệm, khu di tích; giao lưu văn hóa, văn nghệ mừng Đảng – mừng Xuân và chuẩn bị chương trình bắn pháo hoa đón giao thừa, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân.

Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được tăng cường; triển khai phân cấp quản lý di tích, tham mưu điều chỉnh các quyết định liên quan và xin ý kiến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với các dự án có tác động đến di tích. Trong tháng 02/2026, Bảo tàng tỉnh và các di tích đón khoảng 29.383 lượt khách tham quan, dâng hương.

Hoạt động nghệ thuật biểu diễn và văn hóa quần chúng diễn ra sôi nổi; đồng thời tổ chức các chương trình trọng tâm chào mừng Đại hội XIV của Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI. Hoạt động chiếu phim lưu động được thực hiện 168 buổi, phục vụ hơn 25.000 lượt người, tập trung tuyên truyền phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, an toàn thực phẩm và an toàn giao thông.

6. Hoạt động thể thao

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều giải thể thao. Ở các giải đấu quốc gia và quốc tế, vận động viên của tỉnh đạt 01 Huy chương Vàng tại Giải vô địch Võ thuật tổng hợp Châu Á; 01 Huy chương Bạc và 01 Huy chương Đồng tại Đại hội Thể thao người khuyết tật Đông Nam Á (Paragame 13).

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển rộng khắp thông qua việc tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh và hỗ trợ cơ sở tổ chức hoạt động thể thao, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân và đẩy mạnh phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại". Công tác chuẩn bị Đại hội Thể dục thể thao các cấp được triển khai đúng kế hoạch.

THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang