Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026

Quý I năm 2026 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị gia tăng, đặc biệt là xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông; thị trường tài chính, tiền tệ, đầu tư, thương mại và chi phí vận tải toàn cầu biến động mạnh; giá các mặt hàng nhiên liệu, vàng, bạc và kim loại quý duy trì ở mức cao. Ở Trong nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được tổ chức thành công tốt đẹp, mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước; khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và tầm nhìn phát triển, cùng quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặc dù chịu nhiều tác động bất lợi từ bên ngoài, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản duy trì được đà tăng trưởng.

Tại tỉnh Đồng Nai, trong quý I năm 2026, dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh được triển khai hiệu quả. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được duy trì và phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; an sinh xã hội được bảo đảm. Các đồng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và người lao động nỗ lực vượt khó, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)

2. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 3/2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu vào chăm sóc và thu hoạch lúa vụ Đông Xuân cùng các loại cây hoa màu. Chăn nuôi phát triển ổn định, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Hoạt động lâm nghiệp tập trung vào quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng trong mùa khô. Lĩnh vực thủy sản được duy trì theo hướng nâng cao chất lượng, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ.

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 20/03/2026, diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân trên địa bàn tỉnh ước đạt 45.831 ha, tăng 97 ha (+0,21%) so với cùng kỳ năm trước.  Trong đó: Diện tích lúa cơ bản giữ mức ổn định, ước đạt 18.570 ha, tăng 20 ha (+0,11%).  Diện tích các loại cây trồng khác tăng nhẹ: Diện tích bắp ước đạt 9.930 ha, tăng 8 ha (+0,08%); Diện tích cây lạc ước đạt 372 ha, tăng 4 ha (+1%); Diện tích rau các loại ước đạt 6.909 ha, tăng 68 ha (+1%); Diện tích đậu các loại ước đạt 1.233 ha, tăng 6 ha (+0,5%). Nhu cầu tiêu thụ và giá bán của các sản phẩm trên duy trì ổn định, góp phần tạo tâm lý yên tâm cho người dân trong sản xuất.

Ở chiều ngược lại, một số cây trồng có diện tích giảm nhẹ như: khoai lang ước đạt 95 ha, giảm 0,5 ha (-0,5%); đậu tương 109,56 ha, giảm 0,25 ha (-0,2%).

- Sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định nhờ thời tiết tương đối thuận lợi và kiểm soát tốt dịch bệnh. Giá cả duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ khả quan; người dân chủ động chuyển đổi các loại cây trồng kém hiệu quả, tăng cường ứng dụng giống mới và tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Sơ bộ năm 2025, tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 615.268,86 ha, tăng 8.612,41 ha (+1,42%) so cùng kỳ. Trong đó: Diện tích cây ăn quả là 103.950,79 ha, chiếm 16,90% tổng diện tích cây lâu năm trên địa bàn. Quý 1/2026, sản lượng cây ăn quả tăng trưởng tích cực nhờ đạt hiệu quả kinh tế cao của một số cây trồng chủ yếu như: Xoài đạt 33.052 tấn (+6,29%); Chuối đạt 103.115 tấn (+10,55%); Sầu riêng đạt 4.354 tấn (+6,15%); Bưởi đạt 10.601 tấn (+8,77%) so cùng kỳ. 

- Diện tích cây công nghiệp lâu năm là 513.340,04 ha, tăng 101,54 ha (+1,54%). Trong đó: Điều thu hoạch đạt 162.170 tấn (+7,82%); Hồ tiêu thu hoạch đạt 32.650 tấn (+4,38%); Cao su thu hoạch đạt 59.165 tấn (+4,19%) so cùng kỳ.

Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 03/2026 là 4.068.155 con, tăng 122.958 con (+3,12%) so cùng kỳ. Trong đó: Trâu 16.661 con, tăng 92 con (+0,56%) so cùng kỳ; Bò 147.148 con, tăng 699 con (+0,48%) so cùng kỳ. Đàn lợn 3.904.346 con (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 122.167 con (+3,23%) so cùng kỳ. 

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 03/2026 là 36.219,61 ngàn con, tăng 1.143,92 ngàn con (+3,26%) so cùng kỳ; trong đó đàn gà đạt 33.441,2 ngàn con, tăng 1.238,23 ngàn con (+3,85%) so cùng kỳ và chiếm 92,33% tổng đàn gia cầm. Đàn gà tăng nhờ nhu cầu ổn định đối với thịt gà và trứng.

b) Lâm nghiệp

​Diện tích rừng trồng mới trong quý I/2026 ước đạt 427 ha, tăng 22 ha (+5,52%) so cùng kỳ. Trong tháng 03/2026 sản lượng gỗ khai thác dự ước đạt 26.634 m3 tăng 1.467 m3 (+5,83%) so cùng kỳ; Ước quý I/2026 đạt 80.148 m3, tăng 3.925 m3 (+5,15%).

c) Thủy sản

​Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 03/2026 đạt 6.278 tấn, tăng 668 tấn (+11,91%); Ước quý I/2026 đạt 20.454 tấn, tăng 6,76% so cùng kỳ. Trong đó:  Ước quý I/2026 đạt 18.044 tấn, tăng 7,14% so cùng kỳ.  Sản lượng Tôm ước quý I/2026 đạt 1.953 tấn, tăng 68 tấn (+0,28%). Thủy sản khác ​​ đạt 456 tấn, tăng 5,26% so cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định do nhu cầu thị trường và giá bán sản phẩm thủy sản tăng cao. 

3. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai quý I năm 2026 tiếp tục tăng trưởng, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 và quý I/2026 tăng trưởng khá trong các ngành; đơn hàng các của các doanh nghiệp đang thuận lợi, nhiều doanh nghiệp ký được hợp đồng đến hết cả năm, thị trường xuất khẩu ổn định, đặc biệt ngành sản xuất điện tử, gia dày, may mặc…

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3 năm 2026 ước tăng 7,8% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 5,55%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,97%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 27,03%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,58%.

So với cùng kỳ năm 2025, IIP tháng 3 năm 2026 ước tăng 14,17%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng giảm 1,55%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,22%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 40,01%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,84%. 

Tính riêng quý I năm 2026, chỉ số IIP toàn ngành công nghiệp tăng 13,66% so với cùng kỳ năm 2025; cả bốn nhóm ngành công nghiệp cấp I đều đạt tốc độ tăng khá. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 4,64%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,39%; sản xuất và phân phối điện tăng 51,06%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,02%. Một số ngành có mức tăng cao so với quý cùng kỳ năm trước như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 59,80%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 36,25%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 31,42%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 30,59%; sản xuất kim loại tăng 29,34%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,68%...

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 51,06%; Sản xuất phương tiện vận tải tăng 25,40%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 23,81%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,88%; Sản xuất kim loại tăng 21,67%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 20,63%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 19,23%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 17,88%…tuy nhiên vẫn có một số ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm như: In, sao chép bản ghi các loại giảm 0,41%; Sản xuất xe có động cơ giảm 3,40%.

​Quý I năm 2026, nhiều sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng mạnh nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng đơn hàng, như: Điện sản xuất tăng 71,02%; Mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác 27,51%; Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 23,89%; Thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 21,35%; Máy giặt tăng 21,34%; Sợi các loại tăng 21,40%. Ngược lại, một số sản phẩm có mức tăng thấp như: vải các loại tăng 9,64%; Cà phê các loại giảm 10,61%; thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 2,96%; Thuốc lá sợi tăng 1,25%; Sơn các loại tăng 2,38%;...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3 tăng 2,90% so với tháng trước và tăng 2,32% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Chỉ số chung quý I năm 2026 tăng 11,42% so cùng kỳ.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 3 năm 2026 tăng 0,80% so với tháng trước và giảm 4,92% so với tháng cùng kỳ năm 2025, quý I năm 2026, chỉ số sử dụng lao động giảm 5,25% so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,59%; sản xuất và phân phối điện tăng 30,66%.

​Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3 năm 2026 tăng 7,47% so với tháng trước. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số hàng tồn kho tăng 36,64% so cùng kỳ kết quả cho thấy mức độ thanh khoản sản phẩm công nghiệp đang có hướng phát triển rất tốt so quý I/2025.

​* Xu hướng sản xuất kinh doanh: Theo kết quả điều tra XHKD: Tình hình sản xuất kinh doanh chế biến chế tạo dự báo xu hướng kinh doanh quý I/2026 các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo như sau:

Quý I/2026 so quý IV/2025 có 21,91% doanh nghiệp kinh doanh có xu hướng tăng lên, 48,88% doanh nghiệp giữ nguyên mức sản xuất, 29,21% doanh nghiệp tình hình sản xuất kinh doanh xấu đi và chỉ số cân bằng giảm 7,3% và dự báo quý II/2026 so quý I/2026 các doanh nghiệp có xu hướng sản xuất kinh doanh tốt hơn chiếm 32,58% doanh nghiệp, 41,29% số doanh nghiệp có tình hình sản xuất ổn định, 26,12% số doanh nghiệp có xu hướng kinh doanh xấu đi; chỉ số cân bằng tăng 6,46% qua kết quả trên cho thấy khả năng phát triển các doanh nghiệp quý I/2026 và dự báo quý II/2026 triển vọng rất lạc quan, đặc biệt đối các doanh nghiệp ngành sản xuất phân phối điện khi các doanh nghiệp đi vào địa phương đầu tư sản xuất.

4. Vốn đầu tư phát triển

​Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 44.819,83 tỷ đồng, giảm 14,16% so với quý trước; trong đó, vốn khu vực nhà nước ước đạt 10.647,49 tỷ đồng, giảm 34,93%; vốn khu vực ngoài nhà nước ước đạt 16.466,53 tỷ đồng, tăng 4,35%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 17.705,81 tỷ đồng, giảm 4,75%. Quý I năm 2026 là thời điểm chuyển tiếp giữa giai đoạn kết thúc năm kế hoạch trước và triển khai năm kế hoạch mới. Do đó, vốn đầu tư thực hiện giảm so với quý IV/2025 là hiện tượng mang tính quy luật theo chu kỳ. So với quý cùng kỳ năm trước, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt tăng 14,16%. Trong đó, vốn khu vực nhà nước ước tăng 3,43%; vốn khu vực ngoài nhà nước ước tăng 11,93%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tăng 24,20% so với quý I năm 2025.

­5. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 19/3/2026, tổng vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài đạt 756,93 triệu USD, trong đó: cấp mới 24 dự án với tổng vốn đăng ký 289,42 triệu USD, điều chỉnh 21 dự án với tổng vốn đăng ký bổ sung 467,51 triệu USD.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 19/3/2026, tổng vốn đầu tư trong nước ở trong và ngoài các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh đạt 15.517,95 tỷ đồng, đạt khoảng 9,7% so với kế hoạch năm 2026. Trong đó: 03 dự án cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 10.705,59 tỷ đồng và 07 dự án cấp mới trong khu công nghiệp với số vốn đăng ký khoảng 1.622,69 tỷ đồng; 04 dự án (03 dự án ngoài khu công nghiệp, 01 dự án trong khu công nghiệp) tăng vốn với số vốn đăng ký bổ sung khoảng 3.189,67 tỷ đồng.

Về đăng ký doanh nghiệp: Từ đầu năm đến ngày 15/03/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 28.082 tỷ đồng. Trong đó, 1.894 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 12.330 tỷ đồng và 336 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 15.752 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm ngoái, tăng 81,4% về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và tăng 31,7% về số vốn thành lập mới). Ngoài ra có 566 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh, tăng 79,5% so với cùng kỳ năm 2025; Bên cạnh đó, có 630 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Từ đầu năm đến ngày 15/03/2026, có 386 doanh nghiệp giải thể (tăng 94,9% so với cùng kỳ) và 269 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động (tăng 10,2% so với cùng kỳ); 1.499 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 0,06% so với cùng kỳ). Nguyên nhân chủ yếu do một bộ phận doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, thiếu vốn hoạt động, chi phí nguyên vật liệu tăng cao, không cạnh tranh được trên thị trường, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân có năng lực quản trị hạn chế, thiếu kinh nghiệm quản lý, điều hành dẫn tới kinh doanh không hiệu quả.

6. Hoạt động xây dựng

Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên toàn địa bàn quý 1/2026 đạt 28.980 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cùng kỳ và giảm 12,52% so với quý 4/2025.

​- Doanh nghiệp Nhà nước: Dự ước giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành quý 1/2026 thực hiện 159 tỷ đồng, tăng 34,66% so với cùng kỳ và giảm 32,15% so với quý 4/2025. Khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng giá trị toàn ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh, do Đồng Nai không còn doanh nghiệp nhà nước ngành xây dựng hoạt động. Giá trị sản xuất xây dựng này do sự phân bổ và đầu tư vốn thực hiện các địa phương khác, do đó giá trị thấp, tỷ trọng nhỏ và phụ thuộc hoàn toàn vào DN Nhà nước ngoài tỉnh thực hiện.

- Doanh nghiệp ngoài Nhà nước: Dự ước giá trị sản xuất xây dựng khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước theo giá hiện hành quý 1/2026 thực hiện 22.227 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ và giảm 13,04% so với quý 4/2025.

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Dự ước giá trị sản xuất ngành xây dựng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài theo giá hiện hành quý 1/2026 thực hiện 635 tỷ đồng, giảm 19,12% so với cùng kỳ và giảm 29,92% so với quý 4/2025.

7. Thương mại du lịch, giá cả, xuất nhập khẩu và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Quý I/2026, thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên mức tăng chưa cao, hoạt động bán lẻ chưa thực sự sôi động. Riêng trong tháng 3/2026, giá xăng dầu biến động tăng theo thị trường thế giới đã tác động đến chi phí vận chuyển, tạo áp lực lên giá hàng hóa. Trong bối cảnh đó, người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu, đặc biệt đối với các mặt hàng không thiết yếu, làm cho sức mua tăng chậm. Trước tình hình trên, các hoạt động xúc tiến thương mại được tăng cường triển khai, chú trọng kết nối cung – cầu giữa doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối; đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ hàng Việt qua các kênh thương mại điện tử và hệ thống bán lẻ, góp phần hỗ trợ thị trường từng bước phục hồi.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 36.083,7 tỷ đồng, giảm 6,19% so tháng trước và tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung Quý I năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 112.821,3 tỷ đồng, tăng 17,58% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,06%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 20,64%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 27,45% và doanh thu dịch vụ khác tăng 20,58%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 23.360,7 tỷ đồng, giảm 9,42% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do tháng 02 trùng dịp Tết Nguyên Đán, nhu cầu mua sắm, tích trữ hàng hóa tăng cao; bước sang tháng 3, thị trường tiêu dùng trở lại trạng thái bình thường, sức mua có xu hướng chững lại sau cao điểm lễ, Tết. Bên cạnh đó, người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu do giá một số mặt hàng thiết yếu vẫn ở mức cao, chi phí sinh hoạt và vận chuyển tăng, góp phần làm doanh thu giảm so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 13,12%, cho thấy sức cầu trên thị trường vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng; tuy nhiên mức tăng chưa thực sự bứt phá do chịu tác động từ mặt bằng giá hàng hóa, dịch vụ ở mức cao.

Tính chung quý I năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 74.409,1 tỷ đồng, chiếm 66% và tăng 16,06% so với cùng kỳ. Hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều ghi nhận mức tăng. Trong đó, nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 20,12%; xăng, dầu các loại tăng 19,34% do biến động giá và nhu cầu sản xuất, vận tải tăng; hàng may mặc tăng 18,22%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 14,9%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 13,97%; lương thực, thực phẩm tăng 13,88%; ô tô các loại tăng 12,48%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,77%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 9,56%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 3/2026 ước đạt 5.135 tỷ đồng, tăng 0,31% so tháng trước và tăng 20,28% so cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2026 ước đạt 15.435,1 tỷ đồng, chiếm 13,7% tổng mức và tăng 20,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 17,63%; dịch vụ ăn uống tăng 20,72%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 3/2026 ước đạt 37,8 tỷ đồng, giảm 7,5% so tháng trước và tăng 20,09% so cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2026 ước đạt 121,6 tỷ đồng, chiếm 0,78% tổng mức và tăng 27,45% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 3/2026 ước đạt 7.550,1 tỷ đồng, tăng 0,42% so tháng trước và tăng 18,39% so cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 ước đạt 22.855,54 tỷ đồng, chiếm 20,2% tổng mức và tăng 20,58% so với cùng kỳ.

b) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2026 tăng 3,52%. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước tăng mạnh và liên tục theo diễn biến giá thế giới, chịu tác động từ rủi ro nguồn cung và yếu tố địa chính trị, qua đó làm gia tăng chi phí sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế. 

Trong mức tăng 1,48% của CPI tháng 3/2026 so với tháng trước, có 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá giảm; trong đó, Chỉ số giá nhóm giao thông tăng cao nhất, tăng 12,42% so với tháng trước, đóng góp vào mức tăng chung của CPI là (+1,49 điểm %), trong tháng 3 các mặt hàng xăng dầu có 8 lần điều chỉnh giá do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới tăng cao, làm cho chỉ số giá nhóm nhiên liệu tháng 3 tăng 28,51% so với tháng trước. Cụ thể xăng tăng 30,73%; dầu Diezel tăng 57,35%. Dịch vụ giao thông công cộng trong tháng tăng 6,45%, trong đó: Vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 23,19%; dịch vụ vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 13,92% so với tháng trước...

- Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có mức tăng nhẹ, dao động từ 0,06% đến 0,59%.

Ở chiều ngược lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,27%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,34%, qua đó góp phần kiềm chế tốc độ CPI chung trong tháng, phản ánh xu hướng tiêu dùng giảm sau dịp Tết và nhu cầu chi tiêu cho các hoạt động vui chơi, giải trí có phần chững lại.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 3/2026 tăng 4,96%, trong đó 08/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhóm giao thông (+8,67%); thấp nhất là Bưu chính viễn thông (+1,02%). Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,68%.

Chỉ số giá bình quân quý I năm 2026 tăng 3,52% so cùng kỳ. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức tăng 6,05%, đồ uống và thuốc lá tăng 5,93%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,03%, đồ dùng và dịch vụ khác tăng 4,72%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,33%, giáo dục tăng 1,86%, may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,74%, thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,8%. Có 03 nhóm chỉ số giá giảm là giao thông giảm 0,75%, bưu chính viễn thông giảm 0,18%, văn hoá giải trí và du lịch giảm 1,98%.

Giá vàng trong nước tiếp tục biến động theo xu hướng của giá vàng thế giới, Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 2,14% so với tháng trước và tăng 77,16% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 76,63% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá USD tháng 3/2026 tăng 0,65% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,59%, Bình quân quý I, chỉ số giá USD tăng 2,87%.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Ước tính kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2026 đạt 2.108,3 triệu USD, tăng 4,43% so với tháng trước và tăng 2,03% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I năm 2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 7.287,72 triệu USD, tăng 7,54% so với cùng kỳ. Trong quý I, một số nhóm hàng chủ lực đạt mức tăng khá như: Giày dép đạt 1.239,36 triệu USD, tăng 7,22%; cà phê đạt 432,81 triệu USD, tăng 8,67%; nguyên phụ liệu dệt may, da giày đạt 95,77 triệu USD, tăng 7,95%; hàng dệt may đạt 253,36 triệu USD, tăng 5,91%; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 276,36 triệu USD, tăng 4,05%. Các mặt hàng khác như gỗ và sản phẩm gỗ, phương tiện vận tải, xơ sợi dệt, máy tính và linh kiện duy trì mức tăng nhẹ, góp phần ổn định cơ cấu xuất khẩu.

Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch ước đạt 2.457 triệu USD, chiếm 34% tổng kim ngạch; Trung Quốc đạt 819 triệu USD, chiếm 11,35%, Nhật Bản đạt 613 triệu USD, chiếm 8,5%, Hàn Quốc đạt 297 triệu USD, chiếm 4,1%. Các thị trường này chủ yếu tiêu thụ các mặt hàng như giày dép, dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc, thiết bị, điện tử và nông sản, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng xuất khẩu của tỉnh.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 3/2026 ước đạt 1.729,21 triệu USD, tăng 7,4% so tháng trước và tăng 8,73% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế quý I kim ngạch nhập khẩu ước đạt 5.303 triệu USD, tăng 7,59% so cùng kỳ.

Một số nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu có mức tăng gồm: Xơ, sợi dệt các loại đạt 88,38 triệu USD, tăng 7,85%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 190,04 triệu USD, tăng 6,92%; hóa chất đạt 284,49 triệu USD, tăng 7,27%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 352,17 triệu USD, tăng 3,43%; thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 14,4 triệu USD, tăng 6,49%; vải các loại đạt 213,12 triệu USD, tăng 3,67%; sắt thép các loại đạt 247,46 triệu USD, tăng 2,89%; chất dẻo nguyên liệu đạt 338,57 triệu USD, tăng 2,08%; hạt điều đạt 460,8 triệu USD, tăng 2,75%...

Về thị trường nhập khẩu hàng hóa, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch nhập khẩu quý I ước đạt 1.892 triệu USD, chiếm 36,19% tổng kim ngạch nhập khẩu, hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày…

Các thị trường khác như: Hàn Quốc ước đạt 467 triệu USD, chiếm 8,9%; Hoa kỳ 321 triệu USD, chiếm 6,1%; Nhật Bản ước đạt 290 triệu USD, chiếm 5,5%; Đài loan 281 triệu USD, chiếm 5,4%; Indonesia ước đạt 178 triệu USD, chiếm 3,4%...

d) Giao thông vận tải

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 03/2026 ước đạt 697 tỷ đồng giảm 7,88% so tháng trước và tăng 17,33% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 8,8 triệu lượt hành khách, giảm 7,85% so tháng trước và tăng 10,19% so cùng kỳ. Luân chuyển hành khách đạt 630 triệu HK.km, giảm 9,56% so tháng trước và tăng 12,53% so cùng kỳ.

Ước quý I/2026 doanh thu vận tải hành khách đạt 2.115 tỷ đồng tăng 14,96% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hành khách đạt 27 triệu lượt hành khách, tăng 8,86% và luân chuyển hành khách ước đạt 1.948 triệu HK.km, tăng 12,12% so cùng kỳ. 

- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 03/2026 ước đạt 2.620 tỷ đồng, tăng 0,23% so tháng trước và tăng 19,08% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 9,9 triệu tấn, tăng 0,84% so tháng trước và tăng 11,62% so cùng kỳ; Luân chuyển hàng hóa đạt 876 triệu tấn.km, tăng 0,08% so tháng trước và tăng 14,76% so cùng kỳ.

Ước quý I/2026 doanh thu vận tải hàng hóa đạt 7.953 tỷ đồng tăng 18,10% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển ước đạt 29,9 triệu tấn, tăng 9,07%; luân chuyển ước đạt 2.662 triệu tấn.km, tăng 13,07% so cùng kỳ. 

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 03/2026 ước đạt 1.327 tỷ đồng, tăng 0,46% so tháng trước và 37,62% so cùng kỳ. Quý I/2026 ước đạt 3.888 tỷ đồng, tăng 30,26% so cùng kỳ. 

- Doanh thu dịch vụ bưu chính chuyển phát tháng 03/2026 ước đạt 41 tỷ đồng, tăng 0,28% so tháng trước và 40,57% so cùng kỳ. Quý I/2026 ước đạt 121 tỷ đồng, tăng 34,02% so cùng kỳ. 

8. Tài chính – Ngân hàng

a) Thu, chi ngân sách

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I/2026 đạt 29.084,64 tỷ đồng[1], đạt 28,97% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 25,09% so cùng kỳ. Trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 23.976,54 tỷ đồng, tăng 19,55%. Thu nội địa ước đạt 23.391,36 tỷ đồng, tăng 29,83% so cùng kỳ. Một số khoản thu chủ yếu như sau: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 1.620,79 tỷ đồng, tăng 6,78%; Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.640,5 tỷ đồng, tăng 15.84%; Thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 3.996.79 tỷ đồng, tăng 30,43%; Thuế thu nhập cá nhân 2.697,34 tỷ đồng, giảm 6,31%; Các khoản thu về nhà, đất 4.345,06 tỷ đồng, gấp 3,4 lần so với cùng kỳ. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh trong quý I/2026 đạt kết quả tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách cả năm 2026. Đây là mức tăng trưởng khá cao trong bối cảnh mới bước vào đầu năm, cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tiếp tục phục hồi và tăng trưởng tốt, đơn hàng xuất khẩu cải thiện so cùng kỳ, công tác quản lý thu, chống thất thu, đôn đốc thu nộp ngân sách được thực hiện quyết liệt ngay từ đầu năm; một số khoản thu lớn phát sinh sớm, đặc biệt là thu liên quan đến đất đai.

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh quý I/2026 đạt 19.123 tỷ đồng[2], đạt 32,53% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 13.445,15 tỷ đồng, tăng 21,1%; chi thường xuyên đạt 5.675,56 tỷ đồng, giảm 7,56% so với cùng kỳ. Chi đầu tư phát triển đầu năm chưa phát sinh nhiều, các dự án chuyển tiếp từ năm 2025 đang tiếp tục triển khai nhưng tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, gặp vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chưa hoàn tất thủ tục đầu tư và chưa được phân bổ chi tiết kế hoạch vốn do Trung ương giao.

b) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước đến 31/3/2026 đạt 495.400 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025, tăng 14,81% so cùng kỳ. Trong đó: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế ước đạt 234.800 tỷ đồng, chiếm 47,39% trên tổng nguồn vốn huy động, giảm 0,08% so với cuối năm 2025; tiền gửi dân cư ước đạt 255.400 tỷ đồng, chiếm 51,55%, tăng 4,23%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 5.200 tỷ đồng, chiếm 1,06%, tăng 58,97% so với cuối năm 2025.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 31/3/2026 ước đạt 613.300 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025, tăng 10,53% so với cùng kỳ. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 372.500 tỷ đồng, chiếm 60,73% trên tổng dư nợ, tăng 1,8%; dư nợ cho vay trung, dài hạn ước đạt 240.800 tỷ đồng, chiếm 39,27%, tăng 3,59% so với cuối năm 2025.

II. VĂN HÓA – XÃ HỘI

1. Văn hóa

Trong quý I/2026, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Tập trung tuyên truyền các nội dung: Đại hội Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và bầu cử. Đồng thời, thiết kế maket, pa-nô, băng rôn tuyên truyền các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị của tỉnh.

2. Hoạt động thể thao

Trong quý I/2026, Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh tập trung đào tạo, huấn luyện vận động viên tham dự các giải thể thao quốc gia trong năm 2026. Tính đến 10/3/2026[3], các đội tuyển thể thao tỉnh tham dự 18 giải trong nước và quốc tế. Kết quả đạt được 19 huy chương (06 HCV, 03 HCB, 10 HCĐ), trong đó: đạt 06 huy chương giải quốc tế (02 HCV, 01 HCB, 03 HCĐ).

3. Đời sống dân cư, lao động việc làm

- Đời sống dân cư: Trong quý I/2026, đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và tiếp tục được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục được quan tâm phát triển; các chính sách an sinh xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng.

Các chế độ tiền lương, thưởng Tết và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc, góp phần bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Một số doanh nghiệp có mức thưởng Tết cao hơn năm trước, thể hiện sự chia sẻ, đồng hành với người lao động.

- Tình hình lao động, việc làm: Trong quý I/2026, tình hình lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động sản xuất, kinh doanh khởi sắc, đơn hàng của doanh nghiệp tăng đã góp phần duy trì tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở mức thấp, ước khoảng 2,53%, giảm so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp tăng 9,7% so với cùng kỳ, tập trung chủ yếu tại các khu công nghiệp như Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch , Đồng Xoài 3… Đáng chú ý, nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 40%), nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiến độ các đơn hàng.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý 1 năm 2026 ước tính là 2.515.072 người, tăng 43.256 người (+1,75%) so với so cùng kỳ. Trong đó: Lao động ở khu vực thành thị là 1.018.353 người, chiếm 40,49%; Lao động ở khu vực nông thôn là 1.496.719 người, chiếm 59,51%. Lao động nam là 1.345.815 người, chiếm 53,51%; Lao động nữ là 1.169.257 người, chiếm 46,49%.

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc quý 1 năm 2026 ước tính là 2.465.535 người, tăng 55.432 người (+2,30%) so cùng kỳ. Trong đó: Lao động ở khu vực thành thị là 1.001.747 người chiếm 40,63%. Lao động nam là 1.338.292 người, chiếm 54,28%; Lao động nữ là 1.127.243 người, chiếm 45,72%.

Công tác tư vấn việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng 03/2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 19.645 lượt người; Lũy kế từ đầu năm đến nay đã giải quyết việc làm cho 23.453 lượt người, đạt 23,45% kế hoạch năm. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới đào tạo 959 học viên, đạt 1,68% kế hoạch năm, giảm 0,41% so với cùng kỳ. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ đạt 2.060 người, bằng 4,12% kế hoạch năm và giảm 1,41% so với cùng kỳ năm 2025.

​________________________________________

[1] Báo cáo thu và vay của ngân sách Nhà nước đến ngày 26/3/2026 (Sở Tài chính).

[2] Báo cáo chi và trả nợ vay ngân sách Nhà nước đến ngày 26/3/2026 (Sở Tài chính).

[3] Theo báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Thống kê tỉnh Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang