Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tháng 4 năm 2026

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 4 năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa vụ Đông Xuân và các loại cây hoa màu. Chăn nuôi phát triển ổn định; tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Hoạt động lâm nghiệp tập trung vào công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng trong mùa khô. Lĩnh vực thủy sản được duy trì theo hướng nâng cao chất lượng, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ.

a) Nông nghiệp

Trong tháng, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh tập trung chăm sóc lúa vụ Đông Xuân và các loại cây trồng ngắn ngày. Tính đến ngày 20/4/2026, diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân ước đạt 45.697 ha, giảm 36 ha, tương ứng giảm 0,08% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó: Diện tích lúa cơ bản giữ mức ổn định, ước đạt 18.754 ha, tăng 204 ha (+1,10%), hiện cây lúa đang giai đoạn trỗ bông. Diện tích các loại cây trồng khác tăng nhẹ: Diện tích khoai lang ước đạt 100 ha, tăng 4 ha (+4,79%); Diện tích cây lạc ước đạt 467,30 ha, tăng 99 ha (+26,91%); Diện tích đậu các loại ước đạt 1.314,63 ha, tăng 87 ha (+7,12%). Nhu cầu tiêu thụ và giá bán của các sản phẩm trên duy trì ổn định, góp phần tạo tâm lý yên tâm cho người dân trong sản xuất.

Một số cây trồng có diện tích giảm như: đậu tương 105,50 ha, giảm 18 ha (-14,64%); Diện tích bắp ước đạt 9.691 ha, giảm 230 ha (-2,32%); Diện tích rau các loại ước đạt 6.337 ha, giảm 503 ha (-7,36%). Diện tích gieo trồng giảm chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp và chuyển đổi những diện tích cây trồng không hiệu quả sang các hình thức khác hiệu quả hơn.

Chăn nuôi: Tính đến thời điểm tháng 4 năm 2026, tổng đàn gia súc trên địa bàn tỉnh đạt 4.106.292 con, tăng 21.864 con (+0,53%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn trâu đạt 16.696 con, tăng 35 con (+0,40%); đàn bò đạt 147.164 con, tăng 16 con (+0,26%) so với cùng kỳ. Số lượng trâu, bò tăng do nhu cầu tiêu dùng thịt gia súc duy trì ở mức cao, các hộ chăn nuôi tiếp tục đầu tư con giống; đồng thời tỉnh khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, bán chăn thả và cải tạo giống, góp phần thúc đẩy tăng trưởng đàn gia súc. Đàn lợn đạt 3.996.587 con (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 92.241 con (+2,25%) so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 4/2026 là 38.056,83 nghìn con, tăng 1.837,22 nghìn con (+3,15%) so cùng kỳ; trong đó đàn gà đạt 34.377,39 nghìn con, tăng 936,19 nghìn con (+3,19%) so cùng kỳ và chiếm 90,33% tổng đàn gia cầm. Đàn gà tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt gà và trứng ổn định; công tác tiêm phòng, giám sát dịch bệnh được thực hiện chặt chẽ, hạn chế ảnh hưởng của cúm gia cầm và các bệnh truyền nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô chăn nuôi.

b) Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới trong tháng 4/2025 ước đạt 437 ha, tăng 22,3 ha (+5,37%) so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng ước đạt 852,3 ha, tăng 5,16% (+41,8 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do hiện nay các chủ rừng thực hiện tốt mô hình kinh tế hợp tác liên kết theo chuỗi, các địa phương và chủ rừng thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác trồng rừng.

- Hoạt động trồng cây lâm nghiệp phân tán: Trong tháng, số cây trồng phân tán ước đạt 206,63 nghìn cây (+4,77%) so với cùng kỳ năm trước; Lũy kế từ đầu năm ước đạt 544,6 nghìn cây (+4,81%) so với cùng kỳ. Phong trào trồng cây tập trung được đẩy mạnh và nhu cầu cải thiện môi trường sinh thái của địa phương. Bên cạnh đó, ý thức về việc phát triển kinh tế lâm nghiệp nhằm tăng thu nhập của người dân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng diện tích cây trồng phân tán.

- Công tác khai thác gỗ và lâm sản: Việc tổ chức khai thác theo phương án thiết kế khai thác đảm bảo duy trì và phát triển vốn rừng, các lâm trường thực hiện việc khai thác tận thu, tỉa thưa các cây gỗ lớn để đảm bảo mật độ cây rừng. Đồng thời, hoạt động khai thác rừng trồng nguyên liệu được tiến hành đúng chu kỳ, bảo đảm đủ thời gian khai thác theo quy định, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ và phát triển rừng lâu dài. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 23.534 m³, tăng 1.267 m³ (+5,69%) so với cùng kỳ; Lũy kế 4 tháng ước đạt 106.782 m³ (+5,32%) so với cùng kỳ.

c) Thủy sản

​Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng đạt 6.202 tấn, tăng 657 tấn (+11,85%) so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 26.656 tấn, tăng 1.951 tấn (+7,90%). Trong đó:

- Cá trong tháng ước đạt 5.676 tấn, tăng 642 tấn (+12,77%) so cùng kỳ; Lũy kế 4 tháng ước đạt 23.720 tấn, tăng 1.845 tấn (+8,44%). Trong đó: Sản lượng thu hoạch cá tra công nghiệp trong tháng ước đạt 249 tấn, tăng 2 tấn (+0,83%).

- Tôm trong tháng ước đạt 416 tấn, tăng 9,88 tấn (+2,43%) so cùng kỳ; Lũy kế 4 tháng ước đạt 2.369 tấn, tăng 78 tấn (+3,41%). Trong đó: Sản lượng thu hoạch tôm sú trong tháng ước đạt 205 tấn, tăng 4 tấn (+2,25%); tôm thẻ chân trắng ước đạt 207 tấn, tăng 2 tấn (+1,25%).

- Thủy sản khác trong tháng ước đạt 111 tấn, tăng 4 tấn (+4,49%) so cùng kỳ; lũy kế 4 tháng ước đạt 566 tấn, tăng 27 tấn (+5,11%).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tăng 3,47% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 4,91%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,79%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,31%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,26%.

So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tăng 17,17%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 5,54%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,74%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 30,13%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,55%.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 6,18%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,18%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 41,32%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,87%.

Trong mức tăng chung của toàn ngành, ngành sản xuất và phân phối điện ghi nhận mức tăng trưởng cao, trở thành nhân tố đóng góp quan trọng khi các nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 chính thức đi vào vận hành thương mại từ cuối năm 2025, bổ sung đáng kể nguồn cung điện cho hệ thống. Việc gia tăng công suất phát điện không chỉ làm tăng giá trị sản xuất của ngành điện mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp tỷ trọng lớn vào mức tăng chung của chỉ số sản xuất toàn ngành. Các ngành chủ lực như điện tử, chế biến gỗ, dệt may, da giày, sản phẩm kim loại và sản phẩm từ cao su – plastic duy trì đà phục hồi, đơn hàng xuất khẩu cải thiện, công suất hoạt động được nâng lên.

Hầu hết các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức tăng so với tháng trước. Một số ngành tăng khá như: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,31%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 8,71%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,13%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,62%; khai khoáng khác tăng 4,91%...

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 61,72%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 55,73%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 46,71%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 42,20%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 36,62%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 34,21%; sản xuất kim loại tăng 29,61%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,23%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 28,23%...

Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như: sản xuất xe có động cơ giảm 9,30%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 6,21%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu giảm 2,84%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng 4 có mức tăng cao so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 21,83%; thuốc lá sợi tăng 9,81%; săm, lốp các loại tăng 7,84%; mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 7,53%; cà phê các loại tăng 5,61%... Bên cạnh đó, vẫn còn một số mặt hàng gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ như: thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản giảm 1,16%; bột ngọt (mì chính) giảm 0,05%; sơn các loại giảm 0,77%...

So với cùng kỳ năm trước, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao như: thuốc lá sợi tăng 61,62%; điện sản xuất tăng 37,54%; mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 35,90%; thuốc trừ sâu tăng 35,05%; giường, tủ, bàn ghế tăng 29,28%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 27,65%... Trong khi đó, một số sản phẩm còn gặp khó khăn như: cà phê các loại giảm 15,90%; vải các loại giảm 13,50%; bột ngọt (mì chính) giảm 6,72%; giày dép các loại tăng thấp ở mức 1,06%...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4 năm 2026 ước tăng 1,91% so với tháng trước và tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 10,96% so cùng kỳ. Kết quả này cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đang ở trạng thái tích cực. Một số ngành có mức tiêu thụ cao gồm: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 77,46%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 69,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 40,08%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,37%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 31,94%; sản xuất kim loại tăng 29,77%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,34%...

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4 năm 2026 tăng 0,68% so với tháng trước, giảm 1,63% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng giảm 4,51%. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ sau kỳ nghỉ Tết và việc doanh nghiệp điều chỉnh lao động phù hợp với kế hoạch sản xuất. Mức giảm tập trung chủ yếu ở các ngành da giày và may mặc.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2026 tăng 8,66% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 77,43%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 51,19%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,43%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 14,92%…

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Trong tháng 4 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.750,80 tỷ đồng, tăng 18,76% so với tháng trước; lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.295,02 tỷ đồng, tăng 18,50% so với tháng trước và giảm 21,69% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 455,78 tỷ đồng, tăng 19,49% so với tháng trước và lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 175 lần so với cùng kỳ năm 2025.

­4. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/4/2026, tổng vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài đạt 1.153,14 triệu USD, trong đó: cấp mới 34 dự án với tổng vốn đăng ký 591,93 triệu USD, điều chỉnh 34 dự án với tổng vốn đăng ký bổ sung 561,21 triệu USD. Kết quả này cho thấy Đồng Nai tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài nhờ vị trí thuận lợi, hạ tầng khu công nghiệp phát triển và môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 20/4/2026, tổng vốn đầu tư trong nước ở trong và ngoài các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh đạt 17.275,53 tỷ đồng, đạt khoảng 10,8% so với kế hoạch năm 2026. Trong đó: 05 dự án cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 11.645,72 tỷ đồng và 09 dự án cấp mới trong khu công nghiệp với số vốn đăng ký khoảng 1.902,69 tỷ đồng; 06 dự án (03 dự án ngoài khu công nghiệp, 03 dự án trong khu công nghiệp) tăng vốn với số vốn đăng ký bổ sung khoảng 3.727,12 tỷ đồng.

Về đăng ký doanh nghiệp: Từ đầu năm đến ngày 15/4/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp đạt 119.747 tỷ đồng. Trong đó, 2.826 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 92.106 tỷ đồng; 473 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung 27.641 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm trước, tăng 64,3% về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và gấp hơn 6,5 lần về số vốn thành lập mới). Ngoài ra có 1.052 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh, bằng 61,1% so với cùng kỳ; Có 714 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Từ đầu năm đến ngày 15/4/2026, có 538 doanh nghiệp giải thể, tăng 100,7% so với cùng kỳ; 395 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 17,2%; 1.725 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 1,1% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do khó khăn chung của nền kinh tế và những hạn chế nội tại của doanh nghiệp. Nhu cầu trong nước và xuất khẩu phục hồi chậm, đơn hàng giảm, chi phí nguyên vật liệu tăng cao, đặc biệt ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, khiến nhiều doanh nghiệp thiếu đầu ra, phải thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động. Bên cạnh đó, một bộ phận doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân, chậm thích ứng với biến động thị trường, chuyển đổi số còn hạn chế, năng lực cạnh tranh chưa cao, thiếu vốn hoạt động nên phải rút lui khỏi thị trường.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 năm 2026 tiếp tục xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên mức tăng chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Bán lẻ hàng hóa ổn định nhưng chưa thực sự sôi động, sức mua cải thiện chậm do người tiêu dùng có xu hướng thận trọng hơn trong chi tiêu, ưu tiên các mặt hàng thiết yếu và cắt giảm đối với nhóm hàng không thiết yếu trong bối cảnh giá cả một số mặt hàng đầu vào còn ở mức cao. Các doanh nghiệp và hệ thống phân phối đã chủ động triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá, kích cầu tiêu dùng; Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, bán hàng đa kênh tiếp tục được chú trọng, góp phần mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng, từng bước cải thiện sức mua thị trường.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 36.275,3 tỷ đồng, tăng 2,39% so tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 148.440,2 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 15,02%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,11%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 20,88% và doanh thu dịch vụ khác tăng 18,56%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 23.690,5 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 97.693,5 tỷ đồng, chiếm 65,8% và tăng 15,02% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố tăng giá thì bán lẻ hàng hóa tăng 10,88%). Hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều có mức tăng so cùng kỳ. Trong đó, nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 18,55%; xăng, dầu các loại tăng 21,2% do biến động giá và nhu cầu sản xuất, vận tải tăng; hàng may mặc tăng 17,17%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,21%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 12,87%; lương thực, thực phẩm tăng 12,32%; ô tô các loại tăng 10,47%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,81%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 8,11%... Hoạt động thương mại tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất dần phục hồi. Trong đó, nhóm xăng dầu tăng cao chủ yếu do tác động của yếu tố giá và nhu cầu vận tải, sản xuất gia tăng; nhóm hàng gia dụng và may mặc tăng mạnh nhờ nhu cầu tiêu dùng cải thiện và các chương trình khuyến mại, kích cầu được triển khai rộng rãi. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có mức tăng khá như vật liệu xây dựng, phương tiện đi lại cho thấy dấu hiệu phục hồi của hoạt động đầu tư xây dựng và nhu cầu mua sắm tài sản phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Tuy nhiên, mức tăng doanh thu 4 tháng đầu năm chủ yếu vẫn chịu tác động của yếu tố giá, sức mua thực tế cải thiện chưa rõ rệt.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4/2026 ước đạt 5.075,5 tỷ đồng, tăng 0,86% so tháng trước và tăng 16,96% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 20.407,8 tỷ đồng, chiếm 13,7% tổng mức và tăng 19,11% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 16,47%; dịch vụ ăn uống tăng 19,18%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4/2026 ước đạt 36,7 tỷ đồng, tăng 0,23% so tháng trước và tăng 7,76% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 155,8 tỷ đồng, tăng 20,88% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2026 ước đạt 7.473,3 tỷ đồng, tăng 0,93% so tháng trước và tăng 14,91% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 30.183,1 tỷ đồng, chiếm 20,3% tổng mức và tăng 18,56% so với cùng kỳ.

b) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2026 tăng 0,93% so với tháng trước và tăng 6,02% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,14% so với cùng kỳ. Mức tăng CPI trong tháng chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước duy trì ở mức cao. Mặc dù trong tháng có các đợt điều chỉnh giảm giá, song mặt bằng giá vẫn chịu tác động từ biến động giá thế giới, rủi ro nguồn cung và yếu tố địa chính trị, làm gia tăng chi phí vận chuyển, sản xuất và tiêu dùng, qua đó tạo áp lực lên mặt bằng giá chung.

Trong mức tăng 0,93% của CPI tháng 4/2026 so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng giá, 02 nhóm chỉ số giá giảm. Trong đó, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức 3,64%. Nguyên nhân chủ yếu do giá các mặt hàng năng lượng và vật liệu xây dựng tăng theo diễn biến giá thế giới, đồng thời nhu cầu xây dựng trong nước gia tăng. Cụ thể, giá gas tăng 39,39%, giá dầu hỏa tăng 28,70% do tác động của các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Bên cạnh đó, giá điện sinh hoạt tăng 1,56% do thời tiết nắng nóng làm nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt, đặc biệt cho các thiết bị làm mát, tăng cao.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tháng 4 năm 2026 tăng 0,79% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất tăng, làm cho một số mặt hàng tăng giá như: quần áo các loại tăng 1,45%; mũ, nón, áo mưa tăng 1,33%; dép các loại tăng 0,98%...

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58% so với tháng trước, trong đó lương thực giảm 0,11%; thực phẩm tăng 0,06%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,91%...

Các nhóm còn lại có mức tăng thấp hơn, dao động từ 0,05% đến 0,57%.

Ở chiều ngược lại, nhóm giao thông tháng 4 năm 2026 giảm 0,81% so với tháng trước, góp phần làm CPI chung giảm 0,18 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu do giá nhiên liệu giảm 3,26%, trong đó giá xăng giảm 3,85%; dầu diesel giảm 19,39% sau 6 lần điều chỉnh trong tháng theo diễn biến giá nhiên liệu thế giới. Tuy nhiên, giá các dịch vụ giao thông công cộng tăng 12,79% do chi phí đầu vào vẫn ở mức cao và nhu cầu đi lại dịp nghỉ lễ tăng.

Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,16%, chủ yếu do giá các thiết bị công nghệ tiếp tục xu hướng giảm như: điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,49%; tivi giảm 1,12%; thiết bị âm thanh giảm 0,65%... Nguyên nhân do cạnh tranh thị trường, nguồn cung dồi dào và xu hướng giảm giá của các sản phẩm công nghệ.

 So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 4 năm 2026 tăng 6,02%, trong đó có 10/11 nhóm hàng tăng giá. Tăng cao nhất là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+9,80%); tăng thấp nhất là nhóm thông tin và truyền thông (+0,52%). Riêng nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,62%.

Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất (+6,98%); đồ uống và thuốc lá tăng 6,56%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,26%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 4,94%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,62%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,00%; giáo dục tăng 1,87%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,88%; giao thông tăng 1,68%. Riêng nhóm thông tin và truyền thông có chỉ số giá ổn định so với cùng kỳ và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,89%.

Giá vàng trong nước tiếp tục biến động theo xu hướng giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 4 năm 2026 giảm 7,65% so với tháng trước và tăng 53,09% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 70,42% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá USD tháng 4 năm 2026 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá USD tăng 2,62% so với cùng kỳ.

c) Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải tháng 4 năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá. Tổng doanh thu trong tháng ước đạt 4.560 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 18,01% so với cùng kỳ năm 2025. Hoạt động vận tải hàng hóa tăng mạnh, đáp ứng nhu cầu luân chuyển nguyên vật liệu sản xuất, vật liệu xây dựng và hàng hóa tiêu dùng ngày càng sôi động. Cùng với đó, hoạt động vận chuyển hành khách tăng trưởng khá do trong tháng có các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5, kéo theo nhu cầu đi lại, du lịch và về quê của người dân trên các tuyến nội tỉnh, liên tỉnh tăng cao. Hạ tầng giao thông tiếp tục được đầu tư, khai thác hiệu quả cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải và logistics đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận tải ngay từ đầu năm. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải, bưu chính chuyển phát ước đạt 18.439 tỷ đồng, tăng 18,86% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 4/2026 ước đạt 689 tỷ đồng tăng 1,78% so tháng trước và tăng 15,50% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 8,63 triệu lượt hành khách, tăng 0,94% so tháng trước và tăng 7,69% so cùng kỳ. Luân chuyển hành khách đạt 613,81 triệu HK.km, tăng 0,51% so tháng trước và tăng 9,23% so cùng kỳ.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.784 tỷ đồng, tăng 14,27% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hành khách đạt 35,37 triệu lượt hành khách, tăng 7,82%; luân chuyển hành khách đạt 2.542,88 triệu HK.km, tăng 10,58%. Nhu cầu đi lại, về quê và du lịch trong các đợt cao điểm lễ, Tết tăng cao cùng với việc điều chỉnh giá cước từ 20% đến 40% đã góp phần làm tăng doanh thu ngay từ những tháng đầu năm. Các doanh nghiệp vận tải chủ động tăng chuyến, đa dạng hóa dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của người dân.

Vận tải hành khách theo tuyến cố định đang khai thác 331 tuyến (19 tuyến nội tỉnh, 312 tuyến liên tỉnh) với 664 nốt tài, thực hiện bình quân 17.236 chuyến/tháng. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt có 20 tuyến với 246 phương tiện, bình quân khoảng 1.100 chuyến/ngày. Lĩnh vực taxi có 6 đơn vị đang hoạt động với 2.098 xe trên địa bàn tỉnh.

- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 2.562 tỷ đồng, tăng 2,33% so tháng trước và tăng 13,76% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 9,78 triệu tấn, tăng 1,53% so tháng trước và tăng 7,62% so cùng kỳ; Luân chuyển hàng hóa đạt 858,10 triệu tấn.km, tăng 1,19% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ.

Luỹ kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 10.399 tỷ đồng, tăng 15,72% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển ước đạt 39,42 triệu tấn, tăng 7,89%; luân chuyển ước đạt 3.492,18 triệu tấn.km, tăng 11,41% so cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do các khu công nghiệp duy trì nhịp độ sản xuất tốt, kéo theo sự gia tăng nhu cầu lưu thông nguyên vật liệu và xuất khẩu thành phẩm nhằm đáp ứng tiến độ đơn hàng. Thị trường xăng dầu thế giới biến động kéo giá nhiên liệu trong nước từ đầu tháng 4, buộc một số đơn vị vận tải phải tăng giá cước. Song song đó, việc đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình hạ tầng trọng điểm cũng góp phần làm tăng đáng kể khối lượng vận chuyển vật liệu xây dựng.

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 4/2026 ước đạt 1.270 tỷ đồng, tăng 0,17% so tháng trước và 28,76% so cùng kỳ. Luỹ kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 5.098 tỷ đồng, tăng 28,38% so cùng kỳ. Nhu cầu tập kết, lưu trữ hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu tại các khu công nghiệp tăng cao đã thúc đẩy hoạt động kho bãi và dịch vụ logistics phát triển.

- Doanh thu dịch vụ bưu chính chuyển phát tháng 4/2026 ước đạt 39 tỷ đồng, tăng 0,23% so tháng trước và 34,51% so cùng kỳ. Luỹ kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 158 tỷ đồng, tăng 32,42% so cùng kỳ. Sự phát triển của thương mại điện tử và nhu cầu mua sắm trực tuyến là yếu tố chính thúc đẩy hoạt động bưu chính, chuyển phát tăng mạnh.

6. Tài chính – Ngân hàng

a) Thu, chi ngân sách

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 38.267,31 tỷ đồng[1], đạt 38,11% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 25,09% so cùng kỳ, trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 31.392,15 tỷ đồng, tăng 22,28%. Mức tăng trưởng khá cao, cho thấy hoạt động sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đang phục hồi và phát triển tốt, tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách.

Thu nội địa đạt 30.192,55 tỷ đồng, chiếm 78,9% tổng thu, tăng 28,91% so với cùng kỳ, tiếp tục là nguồn thu chủ lực của ngân sách địa phương. Một số khoản thu chủ yếu như sau: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 2.239,3 tỷ đồng, tăng 13,79%, mức tăng thấp hơn các khu vực khác, cho thấy vai trò đóng góp có xu hướng giảm tương đối; Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9.924,78 tỷ đồng, tăng 20,0%, khu vực này tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong đóng góp ngân sách, phản ánh hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất khẩu duy trì ổn định; Thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 5.712,52 tỷ đồng, tăng 40,0%, đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất, cho thấy sự phục hồi rõ nét của khu vực kinh tế tư nhân; Thuế thu nhập cá nhân 3.450,32 tỷ đồng, giảm 7,19%; Các khoản thu về nhà, đất 4.855,74 tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ.

- Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2026 đạt 23.588,4 tỷ đồng[2], đạt 40,13% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 10,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Chi đầu tư phát triển đạt 14.383,72 tỷ đồng, chiếm 60,98% tổng chi, tăng 17,03%, tiến độ giải ngân đạt mức khá, cho thấy công tác triển khai các dự án đầu tư công được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chi thường xuyên đạt 9.200,76 tỷ đồng, chiếm 39,01% tổng chi, tăng 2,34% so với cùng kỳ, mức tăng thấp cho thấy việc điều hành chi thường xuyên được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí.

b) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn ước đến 30/4/2026 đạt 495.400 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cuối năm 2025. Trong đó: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế ước đạt 233.700 tỷ đồng, chiếm 47,17% trên tổng nguồn vốn huy động, giảm 0,55% so với cuối năm 2025; tiền gửi dân cư ước đạt 256.300 tỷ đồng, chiếm 51,73%, tăng 4,6%; phát hành giấy tờ có giá ước đạt 5.400 tỷ đồng, chiếm 1,1%, tăng 65,09% so với cuối năm 2025.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 30/4/2026 ước đạt 629.450 tỷ đồng, tăng 5,2% so với cuối năm 2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 384.000 tỷ đồng, chiếm 61% trên tổng dư nợ, tăng 4,95%; dư nợ cho vay trung, dài hạn ước đạt 245.450 tỷ đồng, chiếm 39%, tăng 5,59% so với cuối năm 2025.

II. VĂN HÓA – XÃ HỘI

1. Văn hóa

Trong tháng 4 năm 2026, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn và sự kiện trọng tâm như: kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch); kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập (24/4/1906 - 24/4/2026). Đặc biệt, tập trung tuyên truyền Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai. Đồng thời, thực hiện thiết kế maket, pa-nô, băng rôn tuyên truyền phục vụ các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị của địa phương.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức 17 chương trình văn nghệ theo chủ đề phục vụ nhu cầu văn hóa văn nghệ của Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó: Biểu diễn phục vụ chính trị 10 buổi; biểu diễn phục vụ Nhân dân vùng sâu, vùng xa 07 buổi; tổng lượt người xem khoảng 26.700 lượt.

Hoạt động điện ảnh và chiếu phim lưu động được triển khai tích cực với 07 đội phục vụ đa dạng đối tượng, đặc biệt hướng về vùng sâu, biên giới và các khu công nghiệp. Trong tháng, toàn tỉnh đã thực hiện 182 buổi chiếu phim lồng ghép tuyên truyền, thu hút hơn 17.300 lượt khán giả (trong đó 86% là đồng bào vùng sâu, vùng xa).

2. Hoạt động thể thao

Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì và phát triển ổn định. Trong tháng, tỉnh tổ chức thành công các giải Vô địch Quần vợt và Cầu lông, góp phần tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích, khuyến khích Nhân dân tham gia rèn luyện sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần.

Bên cạnh đó, thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Các đội tuyển của tỉnh tham dự 21 giải thể thao trong nước và quốc tế, thi đấu nỗ lực và đạt thành tích cao. Kết quả trong tháng giành được 115 huy chương các loại, gồm 31 huy chương vàng, 31 huy chương bạc và 53 huy chương đồng. Trong đó, tại các giải quốc tế đạt 04 huy chương, gồm 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc và 02 huy chương đồng.

3. Tình hình lao động việc làm

​Trong tháng, công tác giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tỉnh đã tổ chức thành công 02 sàn giao dịch việc làm, thu hút 42 đơn vị tham gia tuyển dụng và 1.450 lượt lao động đến tìm việc, dự kiến tuyển dụng khoảng 410 người. Công tác tư vấn việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng 4 năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 13.791 lượt người. Lũy kế từ đầu năm đến nay đạt 37.424 lượt người, bằng 37,42% kế hoạch năm.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh tuyển mới 2.740 học viên; lũy kế từ đầu năm tuyển sinh đạt 8.866/57.000 học viên, bằng 15,55% kế hoạch năm. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ trong tháng đạt 1.127 người; lũy kế đạt 3.187/50.000 học viên, bằng 6,37% kế hoạch năm.

4. Y tế

Tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được kiểm soát tốt. Các đơn vị y tế thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình để chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, sởi, tay chân miệng, sốt rét, bệnh dại, đậu mùa khỉ, ho gà, uốn ván, viêm não Nhật Bản… Đồng thời, bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc và hóa chất, đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác phòng, chống dịch.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

- Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 400 ca mắc, giảm 2,44% ca so với tháng trước và giảm 27,93% so với tháng cùng kỳ. Luỹ kế 4 tháng đầu năm ghi nhận 2.168 ca mắc, giảm 7,71% so với cùng kỳ, có 3 ca tử vong.

- Sốt phát ban nghi sởi: Trong tháng ghi nhận 12 ca, tăng 3 ca so với tháng trước và giảm 280 ca so với tháng cùng kỳ; Luỹ kế 4 tháng ghi nhận 37 ca mắc, giảm 4.696 ca so cùng kỳ.

- Tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 1.015 ca mắc, tăng 93% so với tháng trước và tăng 3,2 lần so với tháng cùng kỳ; Luỹ kế 4 tháng ghi nhận 2.737 ca mắc, tăng 3,29 lần so với cùng kỳ.

- Ho gà: trong tháng ghi nhận 02 ca mắc, bằng tháng trước và giảm 03 ca so với tháng cùng kỳ; Lũy kế 4 tháng ghi nhận 04 ca, không có ca tử vong.

5. Giáo dục

Đối với kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026–2027, toàn tỉnh có 24 trường THPT tổ chức thi tuyển (trong đó có 03 trường chuyên). Thí sinh dự thi 3 môn bắt buộc gồm Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh; thí sinh thi vào các lớp chuyên phải dự thi thêm môn chuyên. Các trường còn lại thực hiện tuyển sinh bằng hình thức xét tuyển dựa trên điểm thi hoặc kết quả học tập THCS.

Song song đó, công tác chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 được triển khai tích cực. Ngành giáo dục đã tổ chức kỳ khảo sát chất lượng các môn thi tốt nghiệp THPT lần thứ nhất và kiểm tra công tác tổ chức tại các đơn vị. Học sinh lớp 12 đang hoàn thiện hồ sơ đăng ký dự thi và xét tuyển đại học, cao đẳng. Đồng thời, đã phối hợp làm việc với các trường THPT, trung cấp, cao đẳng nghề để lựa chọn địa điểm đặt hội đồng thi, bảo đảm yêu cầu về cơ sở vật chất và an ninh.

Công tác quản lý chất lượng được triển khai chặt chẽ, tập trung chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ngành đã xây dựng các dự thảo văn bản quan trọng như: quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thi, chỉ thị của UBND tỉnh, hướng dẫn tổ chức thi, phương án bố trí địa điểm và hội đồng thi. Đồng thời, tiếp tục cập nhật dữ liệu cán bộ, giáo viên tham gia coi thi, chấm thi và tuyển sinh lớp 10.

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục được đẩy mạnh thông qua thẩm định hồ sơ và tổ chức đánh giá ngoài ở các cấp học. Việc cấp phát văn bằng, chứng chỉ được thực hiện kịp thời theo cơ chế một cửa liên thông.

6. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy, nổ, thiên tai

Tỉnh tiếp tục bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội cho nhân dân, đảm bảo tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu trọng điểm, các địa điểm tổ chức sự kiện văn hóa lớn nơi tập trung đông người, các sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng ở cấp độ cao nhất diễn ra trên địa bàn Tỉnh. Với việc triển khai đồng bộ, toàn diện các biện pháp, giải pháp, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. (Theo báo cáo của Công an tỉnh Đồng Nai - Tính từ ngày 15/3/2026 đến ngày 14/4/2026).

Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 4 năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, giảm 04 vụ (-57,14%) so với tháng trước và giảm 02 vụ (-40,00%) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 30 vụ cháy, giảm 01 vụ (-3,23%) so với cùng kỳ. Thiệt hại do cháy đang được tiếp tục thống kê.

Tình hình giao thông: Trong tháng 4 năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 02 vụ (-3,23%) so với tháng trước và giảm 07 vụ (-10,45%) so với cùng kỳ năm trước; làm chết 38 người, bị thương 29 người.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 301 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 202 người, bị thương 140 người, tăng 46 vụ (+18,04%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.

Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ tai nạn đường thủy làm 01 người chết; không xảy ra tai nạn đường sắt.

Tình hình thiên tai: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai.

Vi phạm lĩnh vực môi trường: Trong tháng 4 năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 29 vụ, bắt xử lý 31 đối tượng; xử phạt hành chính 62 vụ và 63 đối tượng với tổng số tiền 2.448 triệu đồng; giảm 28 vụ (-49,12%) so với tháng trước và tăng 19 vụ (gấp 2,9 lần) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 361 vụ vi phạm, tăng 213 vụ (gấp 4,88 lần) so với cùng kỳ; bắt xử lý 397 đối tượng; xử phạt hành chính 464 vụ và 484 đối tượng với tổng số tiền 8.551,09 triệu đồng.

Thống kê tỉnh Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang