Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Đồng Nai tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản

Trong tháng 5 năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất nông nghiệp tập trung thu hoạch vụ Đông Xuân và triển khai xuống giống vụ Hè Thu đúng khung thời vụ; chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường trong cao điểm mùa khô. Lĩnh vực thủy sản duy trì tăng trưởng khá, từng bước mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ, đáp ứng nhu cầu thị trường.

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 20/5/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 73.152 ha, giảm 42 ha, tương ứng giảm 0,06% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng lúa ước thực hiện 31.700 ha, tăng 225 ha (+0,72%) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa Đông Xuân là 18.754,68 ha, tăng 204 ha (+1,10%); diện tích lúa Hè Thu ước gieo trồng 12.946 ha, tăng 21 ha (+0,16%). Đến nay, vụ lúa Đông Xuân trên địa bàn cơ bản đã thu hoạch xong, năng suất lúa ước tính 63,81 tạ/ha, tăng 0,94 tạ/ha (+1,5%); sản lượng ước khoảng 119.692 tấn, tăng 3.054 tấn (+2,6%) so với cùng kỳ

Chăn nuôi:

Tính đến tháng 5 năm 2026, tổng đàn gia súc trên địa bàn thành phố ước có 4.160.627 con, tăng 94.521 con (+2,32%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn trâu có 16.694 con, tăng 68 con (+0,41%); đàn bò có 147.165 con, tăng 393 con (+0,27%). Số lượng trâu, bò tăng do nhu cầu tiêu dùng thịt gia súc duy trì ổn định, các hộ chăn nuôi tiếp tục đầu tư con giống; đồng thời thành phố khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, bán chăn thả và cải tạo giống, góp phần thúc đẩy tăng trưởng đàn gia súc. Đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) ước có 3.996.768 con, tăng 94.060 con (+2,41%) so với cùng kỳ. 

Tính đến tháng 5/2026, tổng đàn gia cầm trên địa bàn thành phố ước có 38.134,74 nghìn con, tăng 1.529,3 nghìn con (+3,42%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn gà ước có 34.429,54 nghìn con, tăng 1.084,05 nghìn con (+3,25%), chiếm 90,28% tổng đàn gia cầm. Đàn gia cầm tiếp tục duy trì mức tăng khá nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt gà và trứng gia cầm ổn định. 

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước thực hiện 606,6 ha, tăng 30,1 ha (+5,22%) so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm ước đạt 1.458,9 ha, tăng 71,9 ha (+5,18%). 

- Hoạt động trồng cây lâm nghiệp phân tán: Trong tháng, số cây trồng phân tán ước đạt 210,5 nghìn cây (+5,57%) so với cùng kỳ năm trước; Lũy kế từ đầu năm ước đạt 751,2 nghìn cây (+4,48%) so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.204,1 m³, tăng 2.258,5 m³ (+5,65%) so với cùng kỳ; Lũy kế 5 tháng ước đạt 148.816,4 m³ (+5,29%) so với cùng kỳ.

c) Thủy sản

Dự ước tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng đạt 10.504 tấn, tăng 454 tấn (+4,52%) so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng năm 2026 ước đạt 37.160 tấn, tăng 1.855 tấn (+5,26%). Trong đó: Sản lượng cá trong tháng ước đạt 8.366 tấn, tăng 387 tấn (+4,86%) so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng ước đạt 32.087 tấn, tăng 1.633 tấn (+5,36%). Riêng sản lượng cá tra công nghiệp thu hoạch trong tháng ước đạt 1.136 tấn, tăng 9,12 tấn (+0,81%). Sản lượng tôm trong tháng ước đạt 1.769 tấn, tăng 62,11 tấn (+3,64%); lũy kế 5 tháng ước đạt 4.138 tấn, tăng 190 tấn (+4,82%). Trong đó, sản lượng tôm sú ước đạt 23 tấn, tăng 0,24 tấn (+1,02%); tôm thẻ chân trắng ước đạt 1.632 tấn, tăng 63 tấn (+4,03%). Các loại thủy sản khác trong tháng ước đạt 367 tấn, tăng 4 tấn (+1,27%) so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng ước đạt 934 tấn, tăng 32 tấn (+3,57%).

2. Sản xuất công nghiệp

​Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5/2026 ước tăng 3,99% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 2,18%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,26%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,17%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,08%. So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 năm 2026 ước tăng 12,18%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,26%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,66%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,42%; công nghiệp khai khoáng giảm 1,03%.

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 13,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 4,41%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,77%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 35,33%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,79%.

Trong tháng, một số ngành có mức tăng khá như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,74%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 7,41%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 7,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 6,86%; sản xuất xe có động cơ tăng 6,36%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,32%... So với cùng kỳ năm trước, trong các ngành công nghiệp cấp II, nhiều ngành tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao như: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 58,16%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 31,71%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 27,36%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 26,08%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 25,02%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,66%; sản xuất kim loại tăng 21,93%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 18,94%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 13,57%...

Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: sản xuất xe có động cơ giảm 6,55%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 3,27%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 1,66%; khai khoáng khác giảm 1,03%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng có mức tăng cao so với tháng trước như: Săm, lốp các loại tăng 7,02%; Máy giặt tăng 6,99%; Mạch điển, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 6,79%; Giường, tủ, bàn ghế tăng 6,00%; Cà phê các loại tăng 5,71%... Bên cạnh đó, vẫn còn một số mặt hàng gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ như: thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản giảm 1,52%; bột ngọt (mì chính) giảm 4,56%; sơn các loại giảm 1,38%; Bao bì các loại giảm 6,19%...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2026 ước tăng 1,55% so với tháng trước và tăng 7,57% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm tăng 10,80% so cùng kỳ. Kết quả này cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đang ở trạng thái tích cực. Một số ngành có mức tiêu thụ cao gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 76,49%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 69,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 41,08%; sản xuất kim loại tăng 34,88%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 32,75%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 31,81%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 30,49%...

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 5 năm 2026 tăng 0,69% so với tháng trước, giảm 0,45% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng giảm 3,82%. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ và việc doanh nghiệp điều chỉnh lao động phù hợp với kế hoạch sản xuất. Mức giảm tập trung chủ yếu ở các ngành da giày và may mặc.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2026 tăng 5,11% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 56,63%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 54,38%; Sản xuất thiết bị điện tăng 14,03%; Dệt tăng 12,07%…

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.187,15 tỷ đồng, tăng 13,30% so với tháng trước; lũy kế 5 tháng đầu năm tăng 6,78% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp thành phố ước đạt 1.712,13 tỷ đồng, tăng 17,27% so với tháng trước và giảm 18,14% so với cùng kỳ; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 475,02 tỷ đồng, tăng 0,96% so với tháng trước và lũy kế 5 tháng đầu năm tăng 187 lần so với cùng kỳ năm 2025.

­4. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 22/5/2026, tổng vốn đầu tư từ khu vực nước ngoài đạt 1.362 triệu USD, trong đó: cấp mới 44 dự án với tổng vốn đăng ký 723 triệu USD, điều chỉnh 47 dự án với tổng vốn đăng ký bổ sung 639,33 triệu USD. Hoạt động thu hút FDI duy trì mức tăng khá, cho thấy môi trường đầu tư của thành phố tiếp tục được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá tích cực. Nguồn vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics. Kết quả trên phản ánh lợi thế của thành phố về hệ thống hạ tầng khu công nghiệp, vị trí kết nối giao thông thuận lợi với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cùng với việc cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 22/5/2026, tổng vốn đầu tư trong nước ở trong và ngoài các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn thành phố đạt 838.637,2 tỷ đồng[1], đạt khoảng 524,15% so với kế hoạch năm 2026. Trong đó: 10 dự án cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 829.646,98 tỷ đồng và 12 dự án cấp mới trong khu công nghiệp với số vốn đăng ký khoảng 4.735,36 tỷ đồng; có 10 dự án (05 dự án ngoài khu công nghiệp, 05 dự án trong khu công nghiệp) tăng vốn với số vốn đăng ký bổ sung khoảng 4.304,86 tỷ đồng; đồng thời có 01 dự án trong khu công nghiệp giảm vốn với số vốn đăng ký giảm 50 tỷ đồng.

Về đăng ký doanh nghiệp: Từ đầu năm đến ngày 15/5/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp đạt 172.815 tỷ đồng. Trong đó, có 3.476 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 123.288 tỷ đồng; 609 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 49.527 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 56,4%, vốn đăng ký thành lập mới tăng 570,6%. Ngoài ra, có 1.324 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn thành phố, tăng 44,6% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu năm đến ngày 15/5/2026, có 828 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Từ đầu năm đến ngày 15/5/2026, có 671 doanh nghiệp giải thể, tăng 83,3% so với cùng kỳ; 491 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 21,8%; 1.914 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động tiếp tục tăng, chủ yếu tập trung ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khu vực kinh tế tư nhân hoạt động kém hiệu quả trong thời gian dài buộc phải thu hẹp quy mô, tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể để cơ cấu lại hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Trong tháng, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng từ các yếu tố địa chính trị và biến động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng tại một số thị trường xuất khẩu lớn dần phục hồi, giá xăng dầu có xu hướng giảm so với tháng trước, hoạt động thương mại và chuỗi cung ứng cơ bản ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Thị trường xuất khẩu duy trì thuận lợi, hoạt động vận tải được duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hóa. Đặc biệt, trong không khí chào mừng Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, nhiều hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí và sự kiện được tổ chức đã góp phần kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ tăng doanh thu thương mại và dịch vụ trên địa bàn.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2026 ước đạt 37.446,6 tỷ đồng, tăng 3,08% so tháng trước và tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 185.939,8 tỷ đồng, tăng 16,37% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 15,32%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 18,7%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 17,3% và doanh thu dịch vụ khác tăng 18,3%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5/2026 ước đạt 24.600 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 122.342,6 tỷ đồng, chiếm 65,8% và tăng 15,32% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố tăng giá thì bán lẻ hàng hóa tăng 10,92%). Hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều có mức tăng so cùng kỳ. Trong đó, nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 17,8%; xăng, dầu các loại tăng 23,9% do biến động giá và nhu cầu sản xuất, vận tải tăng; hàng may mặc tăng 16%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,16%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 13,64%; lương thực, thực phẩm tăng 12,2%; ô tô các loại tăng 9,75%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,56%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 7,27%... 

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 5/2026 ước đạt 5.157,7 tỷ đồng, tăng 1,73% so tháng trước và tăng 17,25% so cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng năm 2026 ước đạt 25.600 tỷ đồng, chiếm 13,7% tổng mức và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 645,4 tỷ đồng, tăng 16,01%; dịch vụ ăn uống ước đạt 21.914 tỷ đồng, tăng 18,78%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 5/2026 ước đạt 37,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so tháng trước và tăng 4,35% so cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 193 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 5/2026 ước đạt 7.652,1 tỷ đồng, tăng 2,27% so tháng trước và tăng 17,12% so cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng năm 2026 ước đạt 37.844,1 tỷ đồng, chiếm 20,3% tổng mức và tăng 18,3% so với cùng kỳ.

b) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2026 giảm 0,15% so với tháng trước và tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ.

Nguyên nhân chủ yếu làm CPI tháng 5 giảm là do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,01%, góp phần làm CPI chung giảm 0,38%. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác cũng có chỉ số giá giảm như văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,33%; thông tin và truyền thông giảm 0,09%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, nhóm giao thông tăng 0,77%, tác động làm CPI chung tăng 0,09%. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước vẫn duy trì ở mức cao; mặc dù trong tháng có các đợt điều chỉnh giảm nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ biến động giá thế giới, rủi ro nguồn cung và các yếu tố địa chính trị. Điều này làm gia tăng chi phí vận tải, sản xuất và tiêu dùng, qua đó tạo áp lực lên mặt bằng giá chung.

Ngoài ra, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,57%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,37%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,33%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá không đổi so với tháng trước.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 5/2026, tăng 5,66%, trong đó 10/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhóm giao thông (+10,66%); tăng thấp nhất là thông tin và truyền thông (+0,45%). Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tháng 5/2026 tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức 7,52%; đồ uống và thuốc lá tăng 6,82%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,14%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,07%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,83%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,23%; giáo dục tăng 1,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,93%; giao thông tăng 3,41%; thông tin và truyền thông tăng 0,09%. Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,91%.

- Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 4,52% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 5 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 61,37% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá USD tháng 5/2026 tăng 0,06% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 0,66%; bình quân 5 tháng, chỉ số giá USD tăng 2,22% so cùng kỳ.

c) Giao thông vận tải

​Doanh thu vận tải hành khách tháng 5/2026 ước đạt 715 tỷ đồng tăng 2,69% so tháng trước và tăng 19,95% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 8,84 triệu lượt hành khách, tăng 1,31% so tháng trước và tăng 10,69% so cùng kỳ. Luân chuyển hành khách đạt 627,03 triệu HK.km, tăng 1,16% so tháng trước và tăng 11,79% so cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.506 tỷ đồng, tăng 15,63% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hành khách đạt 44,31 triệu lượt hành khách, tăng 8,62%; luân chuyển hành khách đạt 3.175,95 triệu HK.km, tăng 11,02%. 

​Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 5/2026 ước đạt 2.710 tỷ đồng, tăng 2,83% so tháng trước và tăng 17,33% so cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 10,37 triệu tấn, tăng 1,91% so tháng trước và tăng 11,91% so cùng kỳ; Luân chuyển hàng hóa đạt 905,17 triệu tấn.km, tăng 1,60% so tháng trước và tăng 13,65% so cùng kỳ. Luỹ kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 13.182 tỷ đồng, tăng 16,70% so cùng kỳ; khối lượng vận chuyển ước đạt 50,19 triệu tấn, tăng 9,58%; luân chuyển ước đạt 4.430,20 triệu tấn.km, tăng 12,70% so cùng kỳ. 

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 5/2026 ước đạt 1.310 tỷ đồng, tăng 1,66% so tháng trước và 29,32% so cùng kỳ. Luỹ kế 5 tháng năm 2026 ước đạt 6.427 tỷ đồng, tăng 28,95% so cùng kỳ. 

Doanh thu dịch vụ bưu chính chuyển phát tháng 5/2026 ước đạt 40 tỷ đồng, tăng 1,54% so tháng trước và 32,87% so cùng kỳ. Luỹ kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 199 tỷ đồng, tăng 32,79% so cùng kỳ. 

6. Tài chính - Ngân hàng

a) Thu, chi ngân sách

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố 5 tháng đầu năm 2026 đạt 48.116,5 tỷ đồng, đạt 47,92% dự toán HĐND thành phố giao, tăng 27,64% so cùng kỳ. Trong đó, tổng thu NSNN đã loại trừ hoàn thuế là 39.826 tỷ đồng, tăng 29,08%. Kết quả thu ngân sách đạt khá so với tiến độ dự toán năm.

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố 5 tháng đầu năm 2026 đạt 28.742,66 tỷ đồng, đạt 48,9% dự toán, tăng 15,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 18.722,37 tỷ đồng, chiếm 67,78% tổng chi, tăng 38,79%, tiến độ giải ngân đạt mức khá, cho thấy công tác triển khai các dự án đầu tư công được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chi thường xuyên đạt 10.014,44 tỷ đồng, chiếm 34,05% tổng chi, giảm 12,69% so với cùng kỳ, cho thấy việc điều hành chi thường xuyên được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước.

b) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đến 31/5/2026 ước đạt 506.000 tỷ đồng, tăng 4,7% so với cuối năm 2025. Trong đó: Huy động bằng VNĐ ước đạt 477.500 tỷ đồng, chiếm 94,36% trên tổng huy động, tăng 4,80%; Huy động bằng ngoại tệ ước đạt 28.500 tỷ đồng, chiếm 5,64%, giảm 4,60% so với cuối năm 2025.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tính đến ngày 31/5/2026 ước đạt 637.250 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cuối năm 2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 392.000 tỷ đồng, chiếm 61,51% trên tổng dư nợ, tăng 7,13%; dư nợ cho vay trung, dài hạn ước đạt 245.250 tỷ đồng, chiếm 38,49%, tăng 5,51% so với cuối năm 2025.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Văn hóa

Trong tháng 5/2026, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan và thông tin truyền thông trên địa bàn thành phố được triển khai đồng bộ, kịp thời, góp phần phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp Nhân dân. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, lịch sử quan trọng của đất nước và địa phương như: kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch; kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026). Đặc biệt, thành phố tập trung tuyên truyền Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, chính thức có hiệu lực từ ngày 30/4/2026.

Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Trong tháng 5, lượng khách du lịch ước đạt 450.000 lượt, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, khách nội địa đạt 440.000 lượt, khách quốc tế đạt 10.000 lượt. Doanh thu từ dịch vụ du lịch ước đạt 330 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, ngành du lịch Đồng Nai đón khoảng 2.521.000 lượt khách, tổng doanh thu ước đạt 1.895 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy hoạt động du lịch tiếp tục phục hồi và phát triển, đóng góp tích cực vào khu vực dịch vụ, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa và tiềm năng du lịch của thành phố Đồng Nai.

2. Hoạt động thể thao

Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn thành phố tiếp tục được duy trì và phát triển ổn định. Trong tháng, các hoạt động diễn ra vô cùng sôi nổi với chuỗi giải đấu thuộc Đại hội Thể dục Thể thao thành phố Đồng Nai lần thứ I. Hàng ngàn vận động viên đã tham gia tranh tài ở đa dạng các bộ môn như: Việt dã, Futsal, Cờ tướng, Cờ vua, Bi sắt, Bóng bàn, Thể hình và Cầu lông. Nổi bật là việc tổ chức thành công giải Bóng chuyền nam 4x4 và Pickleball nhằm thiết thực chào mừng Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự kiện Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Y tế

Tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố trong tháng cơ bản được kiểm soát. Ngành Y tế tiếp tục theo dõi sát diễn biến các bệnh truyền nhiễm, chủ động cập nhật tình hình và triển khai kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch. Đồng thời, các đơn vị y tế bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc và hóa chất, đáp ứng yêu cầu thu dung, điều trị và xử lý dịch bệnh khi phát sinh.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

- Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 407 ca mắc, tăng 1,75% số ca so với tháng trước và giảm 35,91% so với tháng cùng kỳ. Luỹ kế 5 tháng đầu năm ghi nhận 2.575 ca mắc, giảm 13,71% so với cùng kỳ, có 3 ca tử vong.

- Sốt phát ban nghi sởi: Trong tháng ghi nhận 11 ca, giảm 01 ca so với tháng trước và giảm 566 ca so với tháng cùng kỳ; Luỹ kế 5 tháng ghi nhận 48 ca mắc, giảm 5.990 ca so cùng kỳ.

- Tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 1.316 ca mắc, tăng 28% so với tháng trước và tăng 61,7% so tháng cùng kỳ; Luỹ kế 5 tháng ghi nhận 4.062 ca mắc, tăng 2,46 lần so với cùng kỳ.

- Ho gà: trong tháng không ghi nhận ca mắc, giảm 03 ca so tháng trước và giảm 24 ca so với tháng cùng kỳ; Lũy kế 5 tháng ghi nhận 07 ca, không có ca tử vong.

- Uốn ván khác: trong tháng ghi nhận 03 ca, tăng 03 ca so với tháng trước và bằng với tháng cùng kỳ; ghi nhận 01 ca tử vong. Lũy kế 5 tháng ghi nhận 06 ca uốn ván khác, 01 ca tử vong.

4. Giáo dục

Bước vào giai đoạn cuối năm học, công tác chuẩn bị cho các kỳ thi trên địa bàn thành phố Đồng Nai đang được triển khai đồng bộ, khẩn trương, chặt chẽ và đúng tiến độ kế hoạch. Đã ban hành đầy đủ hệ thống văn bản chỉ đạo, phương án tổ chức và phối hợp liên ngành, phục vụ chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện về dữ liệu, cơ sở vật chất cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2026 - 2027.

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT được diễn ra vào các ngày 28/5 và 29/5/2026 với tổng số 30.411 thí sinh. Sở giáo dục đã kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn các đơn vị, trường học thực hiện; tổ chức Hội nghị và tập huấn phần mềm Tuyển sinh THPT năm học 2026-2027 cho lãnh đạo, cán bộ các Phòng Văn hóa các xã/phường và Ban giám hiệu các trường THCS, các trường THPT làm cụm trưởng; cũng như chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ kỳ thi.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Sở GDĐT đã ban hành các văn bản về hướng dẫn tổ chức thực hiện Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026; văn bản về chuẩn bị tổ chức coi thi; rà soát các điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự phục vụ kỳ thi. Năm 2026, thành phố Đồng Nai có 53.188 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp là 51.220 (tỷ lệ 96,3%); thí sinh tự do chỉ thi để tuyển sinh ĐH, CĐ là 1.968 (tỷ lệ 3,7%).

5. Tình hình lao động việc làm

Trong tháng, công tác giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Thành phố đã tổ chức thành công 04 sàn giao dịch việc làm, thu hút 65 đơn vị tham gia tuyển dụng và 1.975 lượt lao động đến tìm việc, dự kiến tuyển dụng khoảng 540 người.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp. Trong tháng, thành phố đã giải quyết việc làm cho 14.739 lượt người; lũy kế từ đầu năm đến nay đạt 53.065 lượt người, bằng 53,07% kế hoạch năm.

THỐNG KÊ TP. ĐỒNG NAI

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang