Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 & 7 tháng năm 2026

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Sản xuất Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản

Trong tháng 7 năm 2026, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc cây trồng vụ Hè Thu và cây lâu năm; chăn nuôi phát triển tương đối thuận lợi, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng được duy trì thường xuyên. Hoạt động thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá, từng bước mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, đáp ứng nhu cầu thị trường.

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 20/7/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 103.609 ha, giảm 101 ha, tương ứng giảm 0,10% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích gieo trồng lúa ước thực hiện 37.225 ha, tăng 211 ha (+0,57%) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa Đông Xuân đạt 18.755 ha, tăng 204 ha (+1,10%); diện tích lúa Hè Thu ước thực hiện 18.471 ha, tăng 7 ha (+0,04%).

Một số loại cây trồng khác có diện tích tăng so với cùng kỳ như: khoai lang 193 ha, tăng 9 ha (+4,88%); lạc 810 ha, tăng 103 ha (+14,59%); đậu các loại 2.576 ha, tăng 103 ha (+4,18%). Việc mở rộng diện tích các loại cây trồng này chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định, giá bán duy trì ở mức có lợi cho người sản xuất, chi phí đầu tư hợp lý và hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác, qua đó tạo động lực để người dân duy trì và mở rộng sản xuất.

Ở chiều ngược lại, diện tích một số cây trồng giảm so với cùng kỳ như: đậu tương 192 ha, giảm 18 ha (-8,60%); bắp 22.761 ha, giảm 203 ha (-0,88%); rau các loại 12.711 ha, giảm 521 ha (-3,94%). Nguyên nhân chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng. Đồng thời, người dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích các loại cây có hiệu quả kinh tế thấp, tăng diện tích cây trồng có giá trị cao hơn, phù hợp với điều kiện canh tác và nhu cầu thị trường.

Chăn nuôi:

Tính đến tháng 7/2026, tổng đàn gia súc trên địa bàn thành phố ước đạt 4.453.320 con, tăng 171.582 con (+4,01%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn trâu đạt 16.748 con, tăng 309 con (+1,88%); đàn bò đạt 160.367 con, tăng 5.331 con (+3,44%). Số lượng trâu, bò tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng ổn định, người chăn nuôi tiếp tục đầu tư con giống và phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, chú trọng nâng cao chất lượng đàn.

Đàn lợn, không tính lợn con chưa tách mẹ, ước đạt 3.906.070 con, tăng 164.475 con (+4,40%) so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn duy trì ở mức cao, giá lợn hơi tương đối thuận lợi, cùng với công tác phòng, chống dịch bệnh và vệ sinh thú y được thực hiện hiệu quả, đã tạo điều kiện để các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất.

Tính đến tháng 7/2026, tổng đàn gia cầm trên địa bàn thành phố ước đạt 37.319 nghìn con, tăng 1.411 nghìn con (+3,93%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn gà ước đạt 33.743 nghìn con, tăng 1.353 nghìn con (+4,18%), chiếm 90,41% tổng đàn gia cầm; các loại gia cầm khác cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường.

b) Lâm nghiệp

Công tác trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước thực hiện 607,6 ha, tăng 31,1 ha (+5,39%) so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 7 tháng đầu năm ước thực hiện 2.672,1 ha, tăng 132,1 ha (+5,20%).

Trong tháng, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước thực hiện 201,5 nghìn cây, tăng 6,39% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế từ đầu năm ước thực hiện 1.172,2 nghìn cây, tăng 4,87%.

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước thực hiện 41.104,10 m³, tăng 2.258,50 m³ (+5,81%) so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng ước thực hiện 233.224,60 m³, tăng 5,42%.

c) Thủy sản

- Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước thực hiện 7.047 tấn, tăng 428 tấn (+6,47%) so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng ước thực hiện 49.008 tấn, tăng 3.228 tấn (+7,05%). Trong đó: Sản lượng cá trong tháng ước thực hiện 6.269 tấn, tăng 392 tấn (+6,67%); lũy kế 7 tháng ước thực hiện 43.562 tấn, tăng 2.991 tấn (+7,37%). Riêng sản lượng cá tra công nghiệp thu hoạch trong tháng ước thực hiện 487 tấn, tăng 34 tấn (+7,63%) so với cùng kỳ.

+ Sản lượng tôm trong tháng ước thực hiện 620 tấn, tăng 28 tấn (+4,78%); lũy kế 7 tháng ước thực hiện 4.381 tấn, tăng 197 tấn (+4,71%). Trong đó, sản lượng tôm sú ước thực hiện 145 tấn, tăng 0,27%; tôm thẻ chân trắng ước thực hiện 479 tấn, tăng 7,05% so với cùng kỳ.

+ Sản lượng các loại thủy sản khác trong tháng ước thực hiện 156 tấn, tăng 7 tấn (+4,99%); lũy kế 7 tháng ước thực hiện 1.064 tấn, tăng 39 tấn (+3,81%).

- Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước thực hiện 691 tấn, tăng 12 tấn (+1,72%) so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng ước thực hiện 4.848 tấn, tăng 78 tấn (+1,85%).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7/2026 ước tăng 1,89% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 0,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,92%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,68%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,51%.

So với cùng kỳ năm 2025, IIP tháng 7/2026 ước tăng 10,65%. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 17,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,28%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,05%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,11%.

Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 7,06%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,44%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 31,91%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,29%.

So với tháng trước, hầu hết các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức tăng. Một số ngành tăng khá như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 5,58%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,53%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 5,51%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,20%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,96%.

So với cùng kỳ năm trước, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 50,69%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,09%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 28,88%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, trừ giường, tủ, bàn, ghế, tăng 27,26%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,32%.

 Ở chiều ngược lại, một số ngành giảm hoặc tăng thấp như: in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,02%; thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 1,56%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,91%; sản xuất thiết bị điện tăng 2,01%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 ước tăng 0,88% so với tháng trước và tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng đầu năm tăng 9,39% so cùng kỳ. Một số ngành có mức tiêu thụ cao gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 83,40%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 59,78%; sản xuất kim loại tăng 37,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 36,87%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 30,19%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,10%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,08%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 21,92%...

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 7 năm 2026 tăng 0,92% so với tháng trước, giảm 0,61% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng giảm 3,20%. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ và việc doanh nghiệp điều chỉnh lao động phù hợp với kế hoạch sản xuất.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 7 năm 2026 tăng 7,12% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 202,11%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 43,54%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 41,79%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,69%…

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước

­ Trong tháng 7/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 3.130,86 tỷ đồng, tăng 11,38% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 2.594,11 tỷ đồng, tăng 11,59%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước thực hiện 536,75 tỷ đồng, tăng 10,41% so với tháng trước. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo cơ cấu nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh trong tháng 7/2026, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước thực hiện 1.788,16 tỷ đồng, bằng 48,64% kế hoạch được giao; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước thực hiện 822,87 tỷ đồng, bằng 14,22%; vốn từ nguồn xổ số kiến thiết ước thực hiện 269,81 tỷ đồng, bằng 48,01%.

4. Thu hút đầu tư và tình hình doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/7/2026, thu hút đầu tư từ khu vực nước ngoài (FDI) đạt 1,534 tỷ USD, bằng 51,16% kế hoạch năm 2026 (kế hoạch 3 tỷ USD). Trong đó: cấp mới 60 dự án với tổng vốn đăng ký 835,63 triệu USD, điều chỉnh tăng vốn 77 dự án với tổng vốn đăng ký bổ sung 699 triệu USD. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì ở mức khá, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế của thành phố, đặc biệt là các dự án mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp đang hoạt động.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 20/7/2026, tổng vốn đầu tư trong nước thu hút tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và ngoài khu công nghiệp trên địa bàn ước đạt 852.693 tỷ đồng, bằng 532,93% kế hoạch năm 2026 là 160.000 tỷ đồng. Trong đó, có 17 dự án được cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 837.526 tỷ đồng; 16 dự án được cấp mới trong khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký 6.363,36 tỷ đồng; 17 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký bổ sung khoảng 8.853,8 tỷ đồng; 1 dự án trong khu công nghiệp điều chỉnh giảm vốn 50 tỷ đồng. Kết quả thu hút đầu tư trong nước vượt xa kế hoạch, chủ yếu do một số dự án quy mô lớn được cấp phép trong kỳ, qua đó bổ sung nguồn lực đầu tư và tạo động lực phát triển sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới.

Về đăng ký doanh nghiệp: Từ ngày 01/7/2026 đến ngày 20/7/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn của doanh nghiệp ước đạt 9.310 tỷ đồng, tăng 86,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, có 386 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.232 tỷ đồng; 87 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung 5.078 tỷ đồng. Ngoài ra, có 285 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn.

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/7/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và bổ sung tăng vốn là 293.081 tỷ đồng. Trong đó, có 4.934 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 230.128 tỷ đồng và 1.005 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 62.953 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 53,3%, tổng vốn đăng ký thành lập mới tăng 548,4%. Cùng thời gian này, có 1.098 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 2.303 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động, tăng 49,84%. Nhìn chung, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng vốn và quay trở lại hoạt động đều tăng, cho thấy môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện và niềm tin của doanh nghiệp có chuyển biến tích cực.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Bên cạnh những kết quả tích cực về thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Từ đầu năm đến ngày 20/7/2026, có 1.116 doanh nghiệp giải thể, tăng 92% so với cùng kỳ năm trước; 785 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 37%; 2.403 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 3%. Số doanh nghiệp giải thể và chấm dứt hoạt động còn ở mức cao, cho thấy cần tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tập trung tháo gỡ khó khăn về vốn, thị trường, đất đai và thủ tục hành chính; tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất và phát triển bền vững.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2026 ước thực hiện 39.095,8 tỷ đồng, tăng 2,52% so với tháng trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước thực hiện 263.236,4 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,02%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,48%; du lịch lữ hành tăng 15,88%; các dịch vụ khác tăng 18,57%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 7/2026 ước thực hiện 25.433 tỷ đồng, tăng 1,97% so với tháng trước và tăng 17,94% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng ước thực hiện 172.744,3 tỷ đồng, chiếm 65,6% tổng mức và tăng 16,02% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố tăng giá, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 11,76%).

trong 7 tháng đầu năm, hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xăng, dầu các loại tăng cao nhất với 27,2%, chủ yếu do biến động giá và nhu cầu phục vụ sản xuất, vận tải tăng; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 17,54%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 17,23%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,22%; hàng may mặc tăng 14,36%; nhiên liệu khác, trừ xăng dầu, tăng 13,61%; lương thực, thực phẩm tăng 12,67%; ô tô các loại tăng 8,95%; phương tiện đi lại, kể cả phụ tùng, tăng 6,41%. Hoạt động bán lẻ hàng hóa tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 7/2026 ước thực hiện 5.532,4 tỷ đồng, tăng 4,73% so với tháng trước và tăng 22,48% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng ước thực hiện 36.407,8 tỷ đồng, chiếm 13,83% tổng mức và tăng 19,48%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú ước thực hiện 921,6 tỷ đồng, tăng 16,68%; dịch vụ ăn uống ước thực hiện 35.486,2 tỷ đồng, tăng 19,55%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 7/2026 ước thực hiện 46,06 tỷ đồng, tăng 11,43% so với tháng trước và tăng 17,84% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng ước thực hiện 280,6 tỷ đồng, tăng 15,88%.

Doanh thu các dịch vụ khác tháng 7/2026 ước thực hiện 8.084,5 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 19,69% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng ước thực hiện 53.803,6 tỷ đồng, chiếm 20,4% tổng mức và tăng 18,57%.

b) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng đầu năm, CPI tăng 4,26% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 giảm so với tháng trước chủ yếu là do giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá nhiên liệu thế giới, kéo theo nhóm giao thông giảm 2,58%, làm CPI chung giảm 0,31 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, giá gas sinh hoạt và một số vật liệu xây dựng giảm góp phần làm nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,32%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,8%. Ngoài ra, giá một số mặt hàng thiết bị công nghệ, dịch vụ viễn thông, dịch vụ du lịch và đồ dùng gia đình ổn định hoặc giảm đã làm các nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,33%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1%, qua đó góp phần làm cho CPI tháng 7 giảm so với tháng trước.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước như: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,21%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các loại nước giải khát tăng trong điều kiện thời tiết nắng nóng. Một số mặt hàng có mức tăng như: Nước khoáng tăng 5,09%; thuốc lá tăng 0,90%; bia các loại tăng 0,62%; rượu mạnh tăng 0,53%; nước tăng lực và nước uống đóng chai tăng 0,42%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,24%, tập trung ở các mặt hàng quần áo nam tăng 0,71%; quần áo trẻ sơ sinh tăng 1,15%; quần áo trẻ em trai tăng 0,34%. Bên cạnh đó, giá các dịch vụ liên quan cũng tăng, như tiền công may quần áo tăng 0,86%, dịch vụ giặt, là tăng 1,78% và dịch vụ sửa chữa giày, dép tăng 2,98%. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu mua sắm trang phục mùa hè và đồng phục học sinh tăng khi các gia đình chuẩn bị cho năm học mới, chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng đã làm giá bán quần áo, đặc biệt là đồng phục học sinh, cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Nhóm giáo dục tăng 0,34% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do từ giữa tháng 7, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập trên địa bàn triển khai năm học mới và thực hiện điều chỉnh mức thu học phí theo quy định, làm giá dịch vụ giáo dục tăng. Trong đó, học phí giáo dục mầm non ngoài công lập tăng 0,4%, góp phần làm chỉ số giá nhóm giáo dục tăng so với tháng trước.

So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 7/2026, tăng 3,3%, trong đó 10/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhóm đồ uống và thuốc lá (+7,32%); tăng thấp nhất là thông tin và truyền thông (+0,07%). Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,1%.

Bình quân 7 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,26% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,53%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,58%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,23%; giao thông tăng 3,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,97%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,46%; giáo dục tăng 1,98%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,96%; thông tin và truyền thông tăng 0,15%. Riêng nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,17%.

Chỉ số giá vàng tháng 7/2026 giảm 4,11% so với tháng trước và tăng 15,59% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng, chỉ số giá vàng tăng 47,88% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá USD tháng 7/2026 tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 0,62% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng, chỉ số giá USD tăng 1,77% so với cùng kỳ.

c) Giao thông vận tải

Hoạt động vận tải tháng 7/2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát trong tháng ước thực hiện 4.967 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước và tăng 21,19% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước thực hiện 33.184 tỷ đồng, tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 7/2026 ước thực hiện 759 tỷ đồng, tăng 1,41% so với tháng trước và tăng 23,73% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước thực hiện 9,10 triệu lượt, tăng 1,07% so với tháng trước và tăng 11,55% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hành khách 634,57 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,31% và tăng 10,26%. Lũy kế 7 tháng doanh thu vận tải hành khách ước thực hiện 5.025 tỷ đồng, tăng 18,45% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 62,47 triệu lượt hành khách, tăng 9,69%; khối lượng luân chuyển 4.446,02 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,23%.

- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 7/2026 ước thực hiện 2.827 tỷ đồng, tăng 2,03% so với tháng trước và tăng 17,94% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước thực hiện 10,54 triệu tấn, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 10,29% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hàng hóa 929,45 triệu tấn.km, tăng 1,10% và tăng 12,98%.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hàng hóa ước thực hiện 18.785 tỷ đồng, tăng 17,05% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 71,15 triệu tấn, tăng 9,87%; khối lượng luân chuyển 6.282,52 triệu tấn.km, tăng 12,97%.

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 7/2026 ước thực hiện 1.341 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng ước thực hiện 9.095 tỷ đồng, tăng 28,55% so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 7/2026 ước thực hiện 41 tỷ đồng, tăng 0,85% so với tháng trước và tăng 30,73% so với cùng kỳ.

6) Hoạt động Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đến ngày 31/7/2026 ước thực hiện 526.800 tỷ đồng, tăng 9% so với cuối năm 2025. Trong đó, vốn huy động bằng đồng Việt Nam ước thực hiện 495.900 tỷ đồng, chiếm 94,13% tổng nguồn vốn huy động và tăng 8,74%; vốn huy động bằng ngoại tệ ước thực hiện 30.900 tỷ đồng, chiếm 5,87% và tăng 3,43% so với cuối năm 2025. Lãi suất huy động tăng trong tháng 7/2026 đã góp phần thu hút được lượng tiền gửi vào ngân hàng, là kênh đầu tư dẫn đầu về bảo đảm an toàn vốn cho người dân.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng đến ngày 31/7/2026 ước thực hiện 658.200 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn ước thực hiện 401.000 tỷ đồng, chiếm 60,92% tổng dư nợ và tăng 9,59%; dư nợ cho vay trung và dài hạn ước thực hiện 257.200 tỷ đồng, chiếm 39,08% và tăng 10,65% so với cuối năm 2025.

Tín dụng tập trung chủ yếu vào các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; cùng một số ngành dịch vụ khác. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam trên địa bàn phổ biến từ 7,6% đến 9,5%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 8,6% đến 10,5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng USD phổ biến từ 4,3% đến 5,2%/năm.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Văn hóa

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức phong phú, đa dạng, phục vụ tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân. Trong tháng, thành phố tổ chức 39 buổi biểu diễn nghệ thuật, thu hút khoảng 38.100 lượt người xem; Tổ chức 08 buổi chương trình Văn nghệ Chào mừng thành phố Đồng Nai và tuyên truyền thực hiện về phát động đợt thi đua đặc biệt 500 ngày đêm "Đoàn kết - Kỷ cương - Hiệu quả - Bứt phá, xây dựng Đồng Nai phát triển văn minh, hiện đại" trên địa bàn thành phố.

Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Trong tháng 7, lượng khách du lịch ước đạt 530.000 lượt, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, khách nội địa đạt 518.000 lượt, khách quốc tế đạt 12.000 lượt. Doanh thu từ dịch vụ du lịch ước đạt 395 tỷ đồng, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, ngành du lịch Đồng Nai đón khoảng 3.561.000 lượt khách, tổng doanh thu ước đạt 2.665 tỷ đồng (đạt 59,2% chỉ tiêu kế hoạch).

2. Hoạt động thể thao

Thể thao thành tích cao tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Trong tháng, các đội tuyển của thành phố tham dự 20 giải thể thao trong nước và quốc tế, giành tổng cộng 192 huy chương các loại, gồm 67 huy chương vàng, 63 huy chương bạc và 62 huy chương đồng.

3. Tình hình lao động việc làm

Trong tháng, thành phố giải quyết việc làm cho 11.575 lượt người. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, số lượt người được giải quyết việc làm là 93.634 lượt, bằng 93,63% kế hoạch năm.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới 10.411 học viên; lũy kế 7 tháng tuyển mới 27.276/57.000 học viên, bằng 47,85% kế hoạch năm. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ trong tháng là 10.538 người; lũy kế 7 tháng là 30.528/50.000 người, bằng 61,06% kế hoạch năm.

Thống Kê TP. Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang