Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tinh hình kinh tế - xã hội tháng 8 & 8 tháng năm 2026

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố tháng 8 năm 2026, hoạt động tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung thu hoạch vụ Hè Thu, xuống giống vụ Mùa, đồng thời duy trì chăm sóc cây lâu năm và tăng cường phòng trừ sâu bệnh; chăn nuôi phát triển tương đối thuận lợi, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng được duy trì thường xuyên. Hoạt động thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá, từng bước mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, đáp ứng nhu cầu thị trường.

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp tập trung thu hoạch vụ Hè Thu, gieo trồng lúa và các loại cây hằng năm vụ Mùa. Tính đến ngày 20/8/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước thực hiện 132.584 ha, giảm 83 ha, tương ứng giảm 0,06% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích gieo trồng lúa ước thực hiện 50.931 ha, tăng 224 ha (+0,44%) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa Đông Xuân 18.755 ha, tăng 204 ha (+1,10%); diện tích lúa Hè Thu 21.435 ha, tăng 32 ha (+0,15%); diện tích lúa Mùa 10.741 ha, giảm 13 ha (-0,12%). Một số loại cây trồng khác có diện tích tăng so với cùng kỳ như: Khoai lang 263 ha, tăng 11 ha (+4,21%); lạc 970 ha, tăng 104 ha (+12,06%); đậu các loại 3.129 ha, tăng 107 ha (+3,54%). Việc mở rộng diện tích các loại cây trồng này chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định, giá bán duy trì ở mức có lợi cho người sản xuất, chi phí đầu tư hợp lý và hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác, qua đó tạo động lực để người dân duy trì và mở rộng sản xuất.

Ở chiều ngược lại, diện tích một số cây trồng giảm so với cùng kỳ như: Đậu tương 227 ha, giảm 20 ha (-8,13%); bắp 28.176 ha, giảm 202 ha (-0,71%); rau các loại 15.737 ha, giảm 518 ha (-3,19%).

Chăn nuôi:

Trong tháng 8, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định; các vật nuôi chủ lực phát triển theo hướng tập trung, ứng dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Giá lợn hơi và một số sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức tương đối thuận lợi, tạo điều kiện để người chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất.

Tính đến tháng 8/2026, tổng đàn gia súc trên địa bàn thành phố ước đạt 4.492.543 con, tăng 173.529 con (+4,02%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn trâu đạt 16.753 con, tăng 316 con (+1,92%); đàn bò đạt 160.369 con, tăng 5.357 con (+3,46%).

Đàn lợn, không tính lợn con chưa tách mẹ, ước đạt 3.907.952 con, tăng 164.969 con (+4,41%) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn gia cầm trên địa bàn thành phố ước đạt 37.334 nghìn con, tăng 1.420 nghìn con (+3,95%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn gà ước đạt 33.755 nghìn con, tăng 1.358 nghìn con (+4,19%), chiếm 90,41% tổng đàn gia cầm; các loại gia cầm khác cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Trong tháng 8/2026, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát. Mặc dù vẫn phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ như dịch tả lợn châu Phi và cúm gia cầm, các ổ dịch đều được phát hiện và xử lý kịp thời, không để lây lan trên diện rộng. Công tác giám sát dịch bệnh, tiêm phòng, tiêu độc, khử trùng, kiểm soát vận chuyển và giết mổ[1] được triển khai đồng bộ; đồng thời tăng cường hướng dẫn chăn nuôi an toàn sinh học và hỗ trợ người chăn nuôi tái đàn.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước thực hiện 602 ha, tăng 25 ha (+4,33%) so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng đầu năm ước thực hiện 3.279 ha, tăng 162 ha (+5,20%).

Trong tháng, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước thực hiện 205 nghìn cây, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế từ đầu năm ước thực hiện 1.382 nghìn cây, tăng 4,97%.

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước thực hiện 42.205 m³, tăng 2.259 m³ (+5,66%) so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 275.429,60 m³, tăng 5,46%.

c) Thủy sản

Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển ổn định. Các đối tượng nuôi chủ lực như cá tra, cá diêu hồng và tôm càng xanh sinh trưởng tốt nhờ điều kiện thời tiết, nguồn nước tương đối thuận lợi và công tác quản lý môi trường nuôi được thực hiện hiệu quả.

- Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước thực hiện 7.902 tấn, tăng 457 tấn (+6,14%) so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 56.911 tấn, tăng 3.685 tấn (+7,05%). Trong đó: Sản lượng cá ước thực hiện 50.131 tấn, tăng 3.393 tấn (+7,26%); Sản lượng tôm ước thực hiện 5.476 tấn, tăng 251 tấn (+4,8%); Sản lượng các loại thủy sản khác ước thực hiện 1.300 tấn, tăng 50 tấn (+3,96%).

- Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước thực hiện 482 tấn, tăng 0,98% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng ước thực hiện 5.330 tấn, tăng 83 tấn (+1,58%).

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 năm 2026 ước tăng 3,91% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 0,46%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 3,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,24%.

So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 năm 2026 ước tăng 15,47%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 21,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,26%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,70%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,92%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 8,53%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,65%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 37,25%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,08%.

Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 37,25% so với cùng kỳ, là mức tăng cao nhất trong bốn ngành công nghiệp cấp I và đóng góp tích cực vào mức tăng chung của toàn ngành. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mức tăng 11,65%; công nghiệp khai khoáng tăng 8,53%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,08%.

Bên cạnh đà phục hồi ổn định của dòng hàng xuất khẩu, các ngành công nghiệp chủ lực của thành phố đồng loạt ghi nhận mức tăng trưởng khởi sắc. Trong đó, các nhóm ngành sản xuất máy móc thiết bị, sản phẩm kim loại, đồ gỗ, sản xuất giấy và phương tiện vận tải đều đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, khẳng định vai trò trụ cột cho nền kinh tế.

 Hầu hết các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức tăng so với tháng trước. Một số ngành tăng khá như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 11,54%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 9,66%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 5,69%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,36%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,69%;...

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 80,28%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 62,40%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 34,85%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,95%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 28,92%; Sản xuất xe có động cơ tăng 23,71%;...

Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như: In, sao chép bản ghi các loại giảm 13,65%; Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu giảm 5,26%; Thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,06%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,30%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng 8 có mức tăng cao so với tháng trước như: Thuốc lá sợi tăng 13,33%; Thuốc trừ sâu tăng 6,58%; Săm, lốp các loại tăng 6,20%; Thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 6,12%; Mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 5,96%;... Bên cạnh đó, vẫn còn một số mặt hàng có mức tăng thấp hoặc giảm so với tháng trước như: Điện sản xuất giảm 4,51%; Sản phẩm kim loại giảm 1,63%; Vải các loại giảm 0,02%; Sợi các loại tăng 0,12%; Bao bì các loại tăng 0,37%; Nước uống tăng 1,48%...

So với cùng kỳ năm trước, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao như: Máy giặt tăng 73,31%; Ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng tăng 32,73%; Điện sản xuất tăng 27,00%; Giường, tủ, bàn ghế tăng 24,36%; Đá xây dựng các loại tăng 18,37%; Thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 18,05%... Trong khi đó, một số sản phẩm có mức tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như: Cà phê các loại giảm 22,12%; vải các loại giảm 4,70%; Sản phẩm kim loại giảm 3,99%; Giày, dép các loại tăng 4,89%...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 ước giảm 0,48% so với tháng trước và tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,39% so cùng kỳ. Một số ngành có mức tiêu thụ cao gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 82,66%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 56,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,32%; sản xuất kim loại tăng 30,63%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,51%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 26,18%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 24,47%; Sản xuất xe có động cơ tăng 23,26%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 22,05%...

Mặc dù chỉ số tiêu thụ tháng 8 giảm 0,48% so với tháng trước, chỉ số lũy kế 8 tháng vẫn tăng 8,39% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy thị trường tiêu thụ nhìn chung vẫn duy trì tăng trưởng, song diễn biến giảm trong tháng cần tiếp tục được theo dõi.

Về tình hình lao động, chỉ số sử dụng lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 8 năm 2026 có mức tăng nhẹ 0,64% so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ, chỉ số này vẫn giảm 1,47%, kéo theo mức giảm lũy kế 8 tháng là 3,09%. Xu hướng giảm này cần tiếp tục theo dõi; mức giảm có thể liên quan đến yếu tố thời vụ và quá trình tinh gọn và tái cơ cấu lao động của các doanh nghiệp để phù hợp với chiến lược sản xuất mới.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8 năm 2026 tăng 11,04% so với tháng trước và tăng 34,01% so với tháng cùng kỳ. Tồn kho tăng khá cao trong cả tháng và so với cùng kỳ, cho thấy áp lực tiêu thụ sản phẩm cần tiếp tục được theo dõi trong những tháng cuối năm.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 duy trì mức tăng trưởng khá, với IIP tăng 12,63% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chỉ số lao động lũy kế giảm 3,09% và tồn kho tăng 34,01% so với cùng kỳ là những yếu tố cần tiếp tục theo dõi, nhằm đánh giá đầy đủ tính bền vững của tăng trưởng trong các tháng cuối năm.

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Trong tháng 8 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 2.797,69 tỷ đồng, giảm 15,71% so với tháng trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước thực hiện 17.055,06 tỷ đồng, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 2.271,05 tỷ đồng, giảm 16,63% so với tháng trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước thực hiện 526,64 tỷ đồng, giảm 11,48% so với tháng trước.

­4. Thu hút đầu tư và tình hình doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/8/2026, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 1.879,58 triệu USD, bằng 62,65% kế hoạch năm 2026 (kế hoạch 3 tỷ USD). Trong đó: cấp mới 70 dự án với tổng vốn đăng ký 938,38 triệu USD, điều chỉnh tăng vốn 88 dự án với tổng vốn đăng ký bổ sung 941,2 triệu USD. Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì ở mức khá, góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế của thành phố, trong đó tập trung vào các dự án mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp đang hoạt động.

Thu hút đầu tư trong nước: Từ đầu năm đến ngày 20/8/2026, tổng vốn đầu tư trong nước trên địa bàn thành phố ước đạt 860.856,69 tỷ đồng, bằng 538% kế hoạch năm 2026 (kế hoạch là 160.000 tỷ đồng). Trong đó, có 18 dự án được cấp mới ngoài khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 839.197 tỷ đồng; 17 dự án được cấp mới trong khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký 6.394,89 tỷ đồng; 20 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đăng ký bổ sung khoảng 15.314,8 tỷ đồng; 01 dự án trong khu công nghiệp điều chỉnh giảm vốn 50 tỷ đồng. Kết quả thu hút đầu tư trong nước vượt xa kế hoạch, chủ yếu do một số dự án quy mô lớn được cấp phép trong kỳ, qua đó bổ sung nguồn lực đầu tư và tạo động lực phát triển sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới.

Phát triển doanh nghiệp: Từ ngày 01/8/2026 đến ngày 15/8/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới và vốn đăng ký bổ sung của doanh nghiệp ước đạt 10.088 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, có 256 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 4.609 tỷ đồng; 55 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung 5.479 tỷ đồng. Ngoài ra, có 222 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn, tăng 17,4% so cùng kỳ.

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/8/2026, tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là 307.367 tỷ đồng. Trong đó, có 5.415 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 237.173 tỷ đồng và 1.124 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 70.194 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 8,9%; tổng vốn đăng ký thành lập mới gấp 6 lần so với cùng kỳ. Cùng thời gian này, có 1.118 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,2%. Nhìn chung, hoạt động đăng ký doanh nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, đăng ký tăng vốn và quay trở lại hoạt động đều tăng, cho thấy môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện và niềm tin của doanh nghiệp có chuyển biến.

Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: Bên cạnh những kết quả tích cực về thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Từ đầu năm đến ngày 15/8/2026, có 1.594 doanh nghiệp giải thể, tăng 125,7% so với cùng kỳ năm trước; 966 chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động, tăng 45%; 2.533 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 2%. Số doanh nghiệp giải thể và chấm dứt hoạt động còn ở mức cao, cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn; cần tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tập trung tháo gỡ khó khăn về vốn, thị trường, đất đai và thủ tục hành chính.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 8/2026, hoạt động thương mại và kinh doanh dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn thành phố diễn biến tích cực. Thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung được bảo đảm, sức mua tiếp tục cải thiện nhờ các chương trình khuyến mại, kích cầu và nhu cầu mua sắm sách vở, đồ dùng học tập và các mặt hàng phục vụ cho năm học mới tăng cao; hoạt động du lịch, dịch vụ khác duy trì đà tăng, cùng với nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2026 ước đạt 39.650,25 tỷ đồng, tăng 1,26% so tháng trước và tăng 18,38% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 302.945,7 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,2%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,76%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 15,62% và doanh thu dịch vụ khác tăng 18,79%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 8/2026 ước đạt 25.808,86 tỷ đồng, tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 17,23% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 198.589,45 tỷ đồng, chiếm 65,6% và tăng 16,2% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố tăng giá thì bán lẻ hàng hóa tăng 11,96%).

Các nhóm ngành hàng bán lẻ tháng 8 đều có mức tăng so với cùng kỳ. Trong đó, xăng, dầu các loại tăng cao nhất với 28,07% do biến động giá và nhu cầu phục vụ sản xuất, vận tải tăng; tiếp đến là gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,97%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 16,6%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 14,92%; hàng may mặc tăng 13,91%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 13,48%; lương thực, thực phẩm tăng 12,96%; ô tô các loại tăng 8,34% và phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 6,1%... Hoạt động bán lẻ hàng hóa trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra khá sôi động. Nhu cầu mua sắm các mặt hàng phục vụ năm học mới như sách vở, dụng cụ học tập, đồng phục và đồ dùng cá nhân tăng, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, siêu thị và cơ sở kinh doanh triển khai nhiều chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ hàng sản xuất trong nước, đưa các sản phẩm OCOP vào hệ thống phân phối, qua đó mở rộng thị trường và hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa. Nhu cầu mua sắm và tiêu dùng tiếp tục tăng so với cùng kỳ, góp phần duy trì đà tăng doanh thu bán lẻ hàng hóa.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 8/2026 ước đạt 5.570,3 tỷ đồng, tăng 0,43% so tháng trước và tăng 21,33% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng doanh thu ước đạt 41.991,95 tỷ đồng, chiếm 13,86% tổng mức và tăng 19,76% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 1.065,3 tỷ đồng, tăng 17,07%; dịch vụ ăn uống ước đạt 40.926,6 tỷ đồng, tăng 19,83%.

Du lịch lữ hành tháng 8 có mức doanh thu 45,78 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 13,94% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành giảm nhẹ so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu đi lại, tham quan, nghỉ dưỡng có xu hướng giảm sau thời gian cao điểm du lịch hè. Lũy kế 8 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 326,4 tỷ đồng, tăng 15,62% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 8/2026 ước đạt 8.225,3 tỷ đồng, tăng 1,63% so tháng trước và tăng 20,15% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 62.037,8 tỷ đồng, chiếm 20,48% và tăng 18,79% so với cùng kỳ.

b) Giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát trong tháng ước thực hiện 5.078 tỷ đồng, tăng 1,81% so với tháng trước và tăng 20,70% so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước thực hiện 38.284 tỷ đồng, tăng 20,45% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

- Doanh thu vận tải hành khách tháng 8/2026 ước thực hiện 784 tỷ đồng, tăng 1,54% so với tháng trước và tăng 25,99% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hành khách ước thực hiện 9 triệu lượt hành khách, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 12,37% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hành khách 639 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,46% và tăng 9,70%.

Lũy kế 8 tháng đầu năm, doanh thu vận tải hành khách ước thực hiện 5.822 tỷ đồng, tăng 19,68% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 72 triệu lượt hành khách, tăng 10,13%; khối lượng luân chuyển 5.086 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,06%.

- Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 8/2026 ước thực hiện 2.896 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 17,58% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước thực hiện 11 triệu tấn, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 9,57% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển hàng hóa 943 triệu tấn.km, tăng 1,18% và tăng 12,14%.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, doanh thu vận tải hàng hóa ước thực hiện 21.687 tỷ đồng, tăng 17,16% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 82 triệu tấn, tăng 9,89%; khối lượng luân chuyển 7.227 triệu tấn.km, tăng 12,87%. Nguyên nhân chủ yếu do các khu công nghiệp duy trì nhịp độ sản xuất tương đối tốt, kéo theo nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu và thành phẩm tăng. Trong tháng, việc tiếp tục thi công các công trình hạ tầng trọng điểm như đường Vành đai 4 TP.HCM (đoạn qua Đồng Nai), nâng cấp Đường tỉnh 769, 773 và Cảng hàng không quốc tế Long Thành cũng góp phần làm tăng khối lượng vận chuyển vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, nhu cầu mua sắm chuẩn bị cho năm học mới đối với các mặt hàng thiết yếu, văn phòng phẩm và đồng phục kéo theo hoạt động lưu thông, phân phối và vận chuyển hàng hóa phục vụ thị trường, qua đó góp phần làm nhu cầu vận tải hàng hóa trong tháng tăng so với tháng trước.

- Doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8/2026 ước thực hiện 1.357 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 24,52% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng ước thực hiện 10.453 tỷ đồng, tăng 28,03% so cùng kỳ. Nhu cầu tập kết, lưu trữ hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu tại các khu công nghiệp tăng cao đã thúc đẩy hoạt động kho bãi và dịch vụ logistics phát triển.

- Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 8/2026 ước thực hiện 41 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 28,69% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng ước thực hiện 321 tỷ đồng, tăng 31,85% so cùng kỳ. Sự phát triển của thương mại điện tử và nhu cầu mua sắm trực tuyến là yếu tố chính thúc đẩy hoạt động bưu chính, chuyển phát tăng mạnh.

c) Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng 0,46% so với tháng trước và diesel tăng 22,15% theo diễn biến giá nhiên liệu thế giới; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,64%, chủ yếu do giá thuê nhà, dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở và gas tăng; các nhóm còn lại có mức tăng thấp hơn như: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,37%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%; giáo dục tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%, góp phần làm CPI trong tháng tăng.

Ở chiều ngược lại, có 04/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,34%, chủ yếu do giá lương thực và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình giảm; đồ uống và thuốc lá giảm 0,45%, thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,07%, do giá một số thiết bị điện thoại, máy tính bảng và dịch vụ viễn thông giảm. Nhìn chung, mức tăng CPI tháng 8 chủ yếu chịu tác động từ nhóm giao thông và nhà ở, trong khi giá một số nhóm hàng hóa, dịch vụ giảm đã góp phần kiềm chế mức tăng chung của CPI.

- So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 8/2026 tăng 3,94%, trong đó 9/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhóm giao thông (+7,72%); tăng thấp nhất là thuốc và dịch vụ y tế (0,99%). Riêng 02 nhóm giảm là thông tin và truyền thông giảm 0,01% và văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,54%.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất tăng 7,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,01%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,34%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,3%; giao thông tăng 4,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,96%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,52%; giáo dục tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,97%; thông tin và truyền thông tăng 0,13%. Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,22%.

Chỉ số giá vàng tháng 8/2026 tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; bình quân 8 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá vàng tăng 43,55%.

Chỉ số giá USD tháng 8/2026 giảm 0,36% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 0,01%. Bình quân 8 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá USD tăng 1,54%.

b) Hoạt động ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đến ngày 31/8/2026 ước đạt 542.500 tỷ đồng, tăng 12,25% so với cuối năm 2025. Bao gồm: phát hành giấy tờ có giá ước đạt 6.100 tỷ đồng, tăng 86,49%; tiền gửi ước đạt 536.400 tỷ đồng, tăng 11,74% (trong đó tiền gửi bằng VNĐ ước đạt 506.000 tỷ đồng, tăng 12,40%; tiền gửi bằng ngoại tệ ước đạt 30.400 tỷ đồng, tăng 1,76% so cuối năm 2025). Tiền gửi tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng đến ngày 31/8/2026 ước thực hiện 654.000 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 396.000 tỷ đồng, tăng 8,23%; dư nợ cho vay trung và dài hạn ước đạt 258.000 tỷ đồng, tăng 10,99% so với cuối năm 2025. Tín dụng trên địa bàn đạt mức tăng trưởng tích cực, đáng ghi nhận, trong đó dư nợ cho vay trung và dài hạn có mức tăng cao hơn so với kỳ hạn cho vay ngắn. Dư nợ tín dụng tăng 9,3% so với cuối năm 2025; trong đó, dư nợ trung và dài hạn tăng 10,99%, cao hơn mức tăng 8,23% của dư nợ ngắn hạn.

II. VĂN HÓA - XÃ HỘI

Trong tháng 8/2026, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan và thông tin truyền thông trên địa bàn thành phố được triển khai đồng bộ, kịp thời, góp phần phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp Nhân dân. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, lịch sử quan trọng của đất nước và địa phương như: Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02/9... Hoạt động tuyên truyền lưu động tiếp tục được tăng cường với 10 buổi chạy xe loa và 05 buổi biểu diễn chủ đề “Tổ quốc trong tim", thu hút khoảng 1.500 lượt người xem tại cơ sở.

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức phong phú, đa dạng, phục vụ tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân. Trong tháng, thành phố tổ chức thành công 29 chương trình văn nghệ chủ đề Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ tại Cơ sở 2 thu hút 32.200 người tham dự và 01 Hội thi “Giai điệu tuổi Hồng" thành phố Đồng Nai năm 2026 với 38 xã, phường tham gia.

Hoạt động điện ảnh và chiếu phim lưu động được triển khai tích cực với 07 đội phục vụ đa dạng đối tượng, đặc biệt hướng về vùng sâu, biên giới và các khu công nghiệp. Trong tháng, thành phố đã thực hiện 140 buổi chiếu phim lồng ghép tuyên truyền, thu hút hơn 12.000 lượt khán giả (trong đó 83,33% là đồng bào vùng sâu, vùng xa).

2. Hoạt động thể thao

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng trên địa bàn thành phố tiếp tục được duy trì và phát triển. Trong tháng, thành phố đã triển khai hiệu quả Tháng hành động vì trẻ em năm 2026 gắn với phong trào bơi phòng, chống đuối nước; tổ chức 02 lớp tập huấn cứu hộ và đẩy mạnh truyền thông với hơn 120 tin, bài, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thành phố đã đăng cai tổ chức thành công Giải vô địch Pencak Silat châu Á lần thứ 10 với sự tham gia của gần 300 vận động viên đến từ 9 quốc gia và vùng lãnh thổ, hoàn thành trao 32 bộ huy chương, góp phần nâng cao vị thế thể thao địa phương trên đấu trường quốc tế.

Trong tháng, các đội tuyển thể thao của thành phố tham dự 14 giải thể thao trong nước và quốc tế, giành tổng cộng 102 huy chương các loại, gồm 26 huy chương vàng, 29 huy chương bạc và 47 huy chương đồng.

3. Tình hình lao động việc làm

Trong tháng 8/2026, công tác giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần hỗ trợ người lao động tiếp cận cơ hội việc làm và ổn định đời sống.

Thành phố đã tổ chức 01 sàn giao dịch việc làm, thu hút 20 đơn vị tham gia tuyển dụng và 4.313 lượt lao động đến tìm việc; dự kiến tuyển dụng khoảng 250 người.

Công tác tư vấn việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần kết nối cung - cầu lao động và hỗ trợ người lao động lựa chọn việc làm phù hợp.

Trong tháng, thành phố giải quyết việc làm cho 9.127 lượt người. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, số lượt người được giải quyết việc làm là 105.831 lượt người, đạt tỷ lệ 105,83% kế hoạch năm.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới 10.330 học viên; lũy kế 8 tháng tuyển mới 42.240/57.000 học viên, đạt 74,1% kế hoạch năm. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ trong tháng là 3.407 người; lũy kế 8 tháng là 37.654/50.000 người, đạt 75,30% kế hoạch năm.

4. Y tế

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

- Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 2.429 ca mắc, tăng 38,96% so tháng trước và giảm 28,54% so tháng cùng kỳ; ghi nhận 2 ca tử vong. Lũy kế 8 tháng đầu năm ghi nhận 7.521 ca mắc và 5 ca tử vong.

- Sốt phát ban nghi sởi: Trong tháng ghi nhận 10 ca, tăng 6 ca so với tháng trước và giảm 53 ca so với tháng cùng kỳ; Lũy kế 8 tháng ghi nhận 70 ca mắc.

- Tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 1.064 ca mắc, giảm 25,33% so tháng trước và tăng 29,91% so tháng cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng ghi nhận 8.037 ca mắc.

- Ho gà: Trong tháng ghi nhận 4 ca mắc, tăng 4 ca so với tháng trước và bằng với tháng cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng ghi nhận 11 ca mắc, không có ca tử vong.

5. Giáo dục

Trong tháng, ngành Giáo dục hoàn tất rà soát dữ liệu và báo cáo kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 với tỷ lệ tốt nghiệp sau phúc khảo đạt 96,89% (trong đó giáo dục phổ thông đạt 99,49%, giáo dục thường xuyên đạt 87,66%); báo cáo kết quả thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT và tổ chức thi, chấm thi đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 dự thi quốc gia. Toàn thành phố tập trung chuẩn bị mọi điều kiện phục vụ khai giảng năm học mới 2026-2027, sẵn sàng đón học sinh các cấp tựu trường để ổn định nền nếp và rà soát sĩ số; đồng thời hoàn thành các đợt bồi dưỡng chính trị, chuyên môn hè cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. 

Thống kê TP. Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​



Chung nhan Tin Nhiem Mang