Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 & 10 tháng năm 2026

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng 10 năm 2026, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, thu hoạch vụ Mùa, đồng thời chăm sóc cây lâu năm và tăng cường phòng trừ sâu bệnh; chăn nuôi phát triển tương đối thuận lợi, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng được thực hiện thường xuyên. Hoạt động nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng khá, giữ vai trò quan trọng trong cung cấp sản phẩm cho thị trường.

a) Nông nghiệp

Trong tháng, sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, thu hoạch lúa và các loại cây hằng năm vụ Mùa; đồng thời tăng cường theo dõi, phòng trừ sâu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại và bảo đảm năng suất. Tính đến ngày 20/10/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước thực hiện 163.986 ha, giảm 440 ha, tương ứng giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng giảm nhẹ, cơ cấu sản xuất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ưu tiên phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế và phù hợp với nhu cầu thị trường.

Diện tích gieo trồng lúa ước thực hiện 61.478 ha, tăng 17 ha (+0,03%) so với cùng kỳ, trong đó, diện tích lúa Đông Xuân 18.755 ha, tăng 204 ha (+1,10%); diện tích lúa Hè Thu 18.153 ha, giảm 311 ha (-1,68%); diện tích lúa Mùa 24.571 ha, tăng 124 ha (+0,51%). Hiện nay, nông dân tiếp tục chăm sóc và thu hoạch lúa Mùa theo lịch thời vụ; điều kiện thời tiết trong tháng mưa nhiều, nguồn nước được cung cấp đầy đủ nhưng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh, người nông dân chủ động kiểm tra và áp dụng kịp thời các biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh.

Một số loại cây trồng khác có diện tích tăng so với cùng kỳ như: Khoai lang 356 ha, tăng 17 ha (+4,87%); đậu tương 324 ha, tăng 24 ha (+7,96%); lạc 1.220 ha, tăng 134 ha (+12,38%); đậu các loại 3.866 ha, tăng 54 ha (+1,42%). Việc mở rộng diện tích các loại cây trồng này chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định, giá bán thuận lợi cho người sản xuất, chi phí đầu tư hợp lý và hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác, qua đó tạo động lực để người dân duy trì và mở rộng sản xuất.

Ở chiều ngược lại, diện tích một số cây trồng giảm so với cùng kỳ như: Bắp 35.980 ha, giảm 207 ha (-0,57%); rau các loại 20.248 ha, giảm 286 ha (-1,39%). Nguyên nhân chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng. Đồng thời, người dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích các loại cây có hiệu quả kinh tế thấp, tăng diện tích cây trồng có giá trị cao hơn, phù hợp với điều kiện canh tác và nhu cầu thị trường. Quá trình chuyển đổi góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng.

Chăn nuôi:

Trong tháng 10/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển theo hướng tập trung, ứng dụng quy trình an toàn sinh học. Thị trường tiêu thụ ổn định, giá lợn hơi cùng một số sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức thuận lợi, tạo điều kiện để người dân chủ động tái đàn và mở rộng sản xuất.

Công tác phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch và vệ sinh thú y được triển khai đồng bộ. Các ổ dịch phát sinh được phát hiện, khoanh vùng và xử lý kịp thời, không để lây lan trên diện rộng, bảo đảm sản xuất ổn định trong các tháng cuối năm. Bên cạnh đó, thành phố tiếp tục khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao gắn với bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.

Tính đến tháng 10/2026, đàn trâu ước đạt 17.224 con, tăng 2,40%; đàn bò đạt 166.480 con, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước.

Đàn lợn, không tính lợn con chưa tách mẹ, ước đạt 4.149.210 con, tăng 203.909 con (+5,17%) so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn cao, giá lợn hơi tương đối thuận lợi, cùng với công tác phòng, chống dịch bệnh và vệ sinh thú y được thực hiện hiệu quả, đã tạo điều kiện để các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất.

Tính đến tháng 10/2026, tổng đàn gia cầm trên địa bàn thành phố ước đạt 39.879 nghìn con, tăng 2.014 nghìn con (+5,32%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đàn gà ước đạt 36.215 nghìn con, tăng 2.004 nghìn con (+5,86%), chiếm 90,81% tổng đàn gia cầm; các loại gia cầm khác cơ bản ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Đàn gia cầm tiếp tục tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng gia cầm ổn định, giá bán tương đối thuận lợi. Công tác tiêm phòng, giám sát dịch bệnh, kiểm dịch và vệ sinh thú y được triển khai thường xuyên; việc áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, cải thiện chuồng trại và nâng cao chất lượng con giống tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần bảo đảm nguồn cung cho thị trường.

Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi cơ bản được kiểm soát tốt; các ổ dịch phát sinh đều được khoanh vùng xử lý dứt điểm, không để lây lan diện rộng. Công tác 

giám sát dịch bệnh, tiêm phòng, tiêu độc, khử trùng, kiểm soát vận chuyển và giết mổ được triển khai đồng bộ, giúp bảo vệ đàn gia súc, gia cầm, bảo đảm nguồn cung thực phẩm an toàn và tạo đà phát triển ổn định cho ngành chăn nuôi trong những tháng cuối năm.

b) Lâm nghiệp

Công tác trồng rừng: Diện tích rừng trồng mới trong tháng ước thực hiện 544 ha, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đầu năm ước thực hiện 4.271 ha, tăng 217 ha (+5,35%). Các địa phương và chủ rừng đã phát huy tốt mô hình kinh tế hợp tác liên kết chuỗi thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ thiết thực về cây giống, nguồn vốn và kỹ thuật canh tác được triển khai đồng bộ đã tạo động lực mạnh mẽ, khuyến khích các hộ dân và doanh nghiệp chủ động mở rộng diện tích rừng trồng mới.

Công tác khai thác gỗ và lâm sản: Hoạt động khai thác tiếp tục được thực hiện theo phương án, thiết kế được phê duyệt, bảo đảm duy trì và phát triển vốn rừng. Các đơn vị thực hiện khai thác tận thu, tỉa thưa hợp lý nhằm bảo đảm mật độ và khả năng sinh trưởng của cây rừng. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước thực hiện 44.137 m³, tăng 2.079 m³ (+4,94%) so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng ước thực hiện 394.518 m³, tăng 16.799 m³ (+4,45%). Sản lượng khai thác tăng chủ yếu do nhiều diện tích rừng trồng đã đến chu kỳ khai thác, cùng với nhu cầu cao về nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ, sản xuất đồ nội thất và xuất khẩu.

c) Thủy sản

Trong tháng 10/2026, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển ổn định. Các vùng nuôi trọng điểm tiếp tục giữ vững quy mô, gắn với việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất an toàn và chú trọng 

truy xuất nguồn gốc chất lượng. Dịch bệnh cơ bản được kiểm soát chặt chẽ. Song song đó, công tác quan trắc và cảnh báo môi trường được ngành chức năng tăng cường nhằm chủ động ứng phó với biến động thời tiết trong mùa mưa, đảm bảo lĩnh vực thủy sản phát triển theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.

- Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước thực hiện 8.522 tấn, tăng 499 tấn (+6,21%) so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng ước thực hiện 74.966 tấn, tăng 4.711 tấn (+6,71%). Sản lượng tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ và giá bán thuận lợi, tạo động lực cho người dân đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đồng thời, chất lượng con giống tốt, công tác quản lý dịch bệnh hiệu quả cùng điều kiện thời tiết, nguồn nước thuận lợi giúp thủy sản sinh trưởng tốt và nâng cao năng suất thu hoạch. T

2. Sản xuất công nghiệp

Tháng 10/2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng trưởng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Cả bốn ngành công nghiệp cấp I đều ghi nhận mức tăng, góp phần duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của thành phố trong những tháng cuối năm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2026 ước tăng 2,44% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 1,06%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,43%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,80%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,07%.

So với cùng kỳ năm trước, IIP tháng 10/2026 ước tăng 18,60%. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,15%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 55,07%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,34%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, IIP ước tăng 13,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,10%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 40,82%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,82%.

Kết quả trên cho thấy sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng ở cả bốn ngành công nghiệp cấp I, nhưng tốc độ tăng có sự khác biệt. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng cao nhất, đạt 40,82%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,10%, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất công nghiệp của thành phố. Ngành khai khoáng tăng 10,46%, trong khi ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng thấp hơn, ở mức 2,82%.

Ở cấp ngành công nghiệp cấp II, nhiều ngành ghi nhận mức tăng khá so với tháng trước, gồm: sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 10,23%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 7,90%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,07%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 5,63%. Tuy nhiên, một số ngành giảm như: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 2,74%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 11,14%.

So với cùng kỳ năm trước, một số ngành có chỉ số sản xuất tháng 10 tăng cao như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 30,98%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,48%; sản xuất trang phục tăng 26,28%; sản xuất xe có động cơ tăng 25,48%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 20,04%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng có sản lượng tăng khá so với tháng trước như: thuốc trừ sâu tăng 18,60%; cà phê các loại tăng 7,65%; giày dép các loại tăng 7,31%; săm, lốp các loại tăng 5,62%; mạch điện, tủ điện và sản phẩm điện tử khác tăng 5,10%; bột ngọt tăng 3,91%. Một số sản phẩm tăng thấp hơn như thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 1,34%; nước ngọt các loại tăng 1,03%. Ngược lại, sản phẩm kim loại giảm 3,12%; vải các loại giảm 0,35%; ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng giảm 0,21%.

So với cùng kỳ năm trước, sản lượng một số sản phẩm tăng cao, gồm: điện sản xuất tăng 71,82%; máy giặt tăng 52,51%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 27,04%; quần áo các loại tăng 26,01%; ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng tăng 25,77%; giày dép các loại tăng 17,23%; đá xây dựng các loại tăng 16,03%; thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 12,14%. Trong khi đó, cà phê các loại tăng 2,27%; một số sản phẩm giảm như vải các loại giảm 1,42%; sơn các loại giảm 1,68%; bao bì các loại giảm 8,08%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2026 ước giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 11,53% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số tiêu thụ ước tăng 9,16% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao gồm: sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 82,68%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 51,23%; sản xuất xe có động cơ tăng 36,93%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,15%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 28,33%; sản xuất kim loại tăng 27,30%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 23,85%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 23,57%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,35%. Ngành sản xuất đồ uống có mức tăng thấp hơn, đạt 9,36%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 10/2026 tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 1,20% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10/2026 tăng 13,48% so với tháng trước và tăng 37,60% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chỉ số tiêu thụ tháng 10 giảm 0,12% so với tháng trước. Diễn biến này cho thấy cần tiếp tục theo dõi tình hình tiêu thụ và tồn kho theo từng ngành, kết hợp thông tin về đơn hàng và kế hoạch sản xuất để xác định nguyên nhân; chưa đủ cơ sở để khẳng định tồn kho tăng hoàn toàn do doanh nghiệp chủ động dự trữ cho các đơn hàng cuối năm.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2026 tiếp tục tăng trưởng tích cực, với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 13,19% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diễn biến sử dụng lao động và mức tăng tồn kho cần được theo dõi sát để đánh giá đầy đủ chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục khơi thông nguồn lực, chủ động nắm bắt diễn biến thị trường và linh hoạt điều chỉnh hoạt động sản xuất, cung ứng, qua đó củng cố năng lực của doanh nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng công nghiệp đã đề ra.

3. Tình hình thực hiện vốn đầu tư nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Trong 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng so với cùng kỳ, nhưng tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch năm còn thấp. Tiến độ thực hiện có sự khác biệt giữa các cấp ngân sách và các nguồn vốn, cần tiếp tục được theo dõi để đẩy nhanh thực hiện các dự án trong những tháng cuối năm.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

Tháng 10 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 3.587,8 tỷ đồng, tăng 12,85% so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước thực hiện 23.624,2 tỷ đồng, tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước và đạt 59,97% kế hoạch năm 2026. Nếu loại trừ 9.597,2 tỷ đồng vốn kéo dài, thì 10 tháng năm 2026 dự ước thực hiện đạt 79,28% (23.624,2/29.796,6) vốn kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và vốn Thành phố Đồng Nai giao thêm). Trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước tháng 10 thực hiện 2.845,1 tỷ đồng, tăng 12,85% so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước thực hiện 18.655,6 tỷ đồng, bằng 91,87% so cùng kỳ năm trước, đạt 56,77% kế hoạch năm.

Vốn ngân sách xã bố trí 6.530 tỷ đồng, so năm 2025 phân bổ tăng 6.499 tỷ đồng (+23.011%), bao gồm: Nguồn vốn NSTT: 1.890 tỷ đồng; nguồn vốn đầu tư từ tiền sử dụng đất: 3.215 tỷ đồng và 1.424 tỷ đồng của nguồn vốn xổ số kiến thiết. Dự ước tháng 10 năm 2026 thực hiện 742,7 tỷ đồng, tăng 12,85% so tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 thực hiện 4.968,6 tỷ đồng, đạt 76,08% kế hoạch.

Tình hình vốn đầu tư thực hiện của một số công trình lớn, trọng điểm năm 2026:

- Dự án xây dựng đường ven sông cái đoạn từ đường Hà Huy Giáp đến đường Trần Quốc Toản, thành phố Biên Hòa. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 100 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện 10 tháng đầu năm 2026 là 71,8 tỷ đồng.

- Dự án xây dựng đường 25C đoạn từ Quốc lộ 51 đến Hương lộ 19 (giai đoạn 1), huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 170 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện 10 tháng đầu năm 2026 là 75,5 tỷ đồng.

- Dự án nâng cấp đường 25B đoạn từ Trung tâm huyện Nhơn Trạch ra Quốc lộ 51, huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch. Năm 2026 vốn kế hoạch được giao là 300 tỷ đồng. Dự ước khối lượng thực hiện 10 tháng đầu năm 2026 là 104,3 tỷ đồng...

4. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trên địa bàn thành phố là 2.420,37 triệu USD, tương đương 80,68% kế hoạch năm. Trong đó, 82 dự án được cấp mới với tổng vốn đăng ký 1.083,77 triệu USD; 109 dự án điều chỉnh tăng vốn, bổ sung 1.336,6 triệu USD. Vốn đăng ký tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.

Thu hút đầu tư trong nước: Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký tại các dự án trong và ngoài khu công nghiệp đến ngày 20/10/2026 là 868.254,4 tỷ đồng, gấp 5,4 lần kế hoạch năm. Trong đó, 19 dự án ngoài khu công nghiệp được cấp mới với tổng vốn đăng ký khoảng 843.559 tỷ đồng; 21 dự án trong khu công nghiệp được cấp mới với khoảng 7.179,5 tỷ đồng. Có 27 dự án điều chỉnh tăng vốn, bổ sung khoảng 17.565,9 tỷ đồng; 01 dự án trong khu công nghiệp điều chỉnh giảm 50 tỷ đồng. Mức tăng vốn đăng ký chủ yếu đến từ một số dự án khu đô thị và nhà ở quy mô lớn trong kỳ.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp: Từ ngày 01/10/2026 đến 20/10/2026, có khoảng 334 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 28,2% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 26.418 tỷ đồng, gấp hơn 8 lần cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, có 6.415 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 1,5%; tổng vốn đăng ký là 292.056 tỷ đồng, gấp hơn 5 lần so cùng kỳ; 1.440 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 96.509 tỷ đồng. Có 1.440 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,7%.

Tình hình giải thể, tạm ngừng kinh doanh: Từ ngày 01/10/2026 đến 20/10/2026, có 358 doanh nghiệp giải thể, gấp hơn 2 lần so với tháng cùng kỳ; 113 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giảm 8,2%. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, có khoảng 2.599 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,1 lần so cùng kỳ; 2.814 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 1,1%. Số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cho thấy các doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn trong duy trì hoạt động, nhất là trước áp lực về chi phí và thị trường tiêu thụ, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

5. Thương mại, dịch vụ, giá cả và vận tải

5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 10 năm 2026, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố tiếp tục được quan tâm. Thành phố đẩy mạnh phát triển thương mại trên môi trường số, khuyến khích các đơn vị triển khai mô hình “Tick xanh trách nhiệm" nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa, uy tín sản phẩm địa phương và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các hoạt động kết nối cung cầu, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất, kinh doanh quảng bá sản phẩm, tìm kiếm đối tác, mở rộng kênh phân phối tiếp tục được chú trọng, công tác kiểm tra niêm yết giá, kiểm soát nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, phòng chống hàng giả, hàng nhập lậu và hàng kém chất lượng được tăng cường, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2026 ước đạt 42.379,8 tỷ đồng, tăng 2,2% so tháng trước và tăng 20,97% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 386.863,7 tỷ đồng, tăng 17,91% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,62%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 20,6%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 16,36% và doanh thu dịch vụ khác tăng 20,32%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10/2026 ước đạt 27.305,45 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 18,46% so cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 252.803,12 tỷ đồng, chiếm 65,35% và tăng 16,62% so với cùng kỳ (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì bán lẻ hàng hóa tăng 12,37%).

So với cùng kỳ, các nhóm ngành hàng bán lẻ đều có mức tăng, trong đó: nhóm mặt hàng xăng, dầu các loại tăng cao nhất với 30,15% do biến động giá và nhu cầu phục vụ sản xuất, vận tải tăng; tiếp đến là gỗ và vật liệu xây dựng tăng 21,78%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,06%; hàng may mặc tăng 13,86%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 13,57%; lương thực, thực phẩm tăng 13,52%; ô tô các loại tăng 7,43% và phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 5,69%...

Theo báo cáo của Sở Công thương, trong tháng 10 năm 2026, Sở đã phối hợp với các đơn vị tổ chức chương trình kết nối cung - cầu với Tập đoàn Central Retail Việt Nam. Chương trình thu hút 42 doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia, trực tiếp kết nối với bộ phận thu mua của hệ thống siêu thị, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm địa phương. Thông qua chương trình tập trung hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu yêu cầu, điều kiện thu mua và quy trình đưa hàng hóa vào hệ thống siêu thị, qua đó mở rộng đầu ra, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm địa phương thông qua các kênh phân phối hiện đại.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 10 năm 2026 ước đạt 5.890,6 tỷ đồng, tăng 1,76% so tháng trước và tăng 24,40% so cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng doanh thu ước đạt 53.688,5 tỷ đồng, chiếm 13,88% tổng mức và tăng 20,60% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 1.359,8 tỷ đồng, tăng 17,51%; dịch vụ ăn uống ước đạt 52.328,76 tỷ đồng, tăng 20,68%.

Du lịch lữ hành tháng 10 có mức doanh thu 49,85 tỷ đồng, tăng 2,96% so với tháng trước và tăng 22,13% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 424,7 tỷ đồng, tăng 16,36% so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 10/2026 ước đạt 9.134 tỷ đồng, tăng 4,35% so tháng trước và tăng 26,73% so cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 79.947,3 tỷ đồng, chiếm 20,66% và tăng 20,32% so với cùng kỳ.

5.2. Giao thông vận tải

Trong tháng 10 năm 2026, hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, vận chuyển hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa trên thị trường. Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát trong tháng ước đạt 5.759,2 tỷ đồng, tăng 4,93% so với tháng trước và tăng 32,71% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước đạt 49.762 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu tháng 10/2026 ước đạt 772,54 tỷ đồng, tăng 0,53% so với tháng trước và tăng 22,07% so với cùng kỳ. Số hành khách vận chuyển đạt 9,38 triệu lượt, tăng tương ứng 0,51% và 12,35%; khối lượng luân chuyển đạt 638,64 triệu lượt hành khách.km, tăng tương ứng 0,53% và 8,04%. Lũy kế 10 tháng, doanh thu đạt 7.388,30 tỷ đồng, tăng 20,49%; vận chuyển 90,78 triệu lượt hành khách, tăng 10,76%; luân chuyển 6.379,80 triệu lượt hành khách.km, tăng 10,67% so với cùng kỳ.

Vận tải hàng hóa: Doanh thu vận tải hàng hóa tháng 10/2026 ước đạt 3.341,94 tỷ đồng, tăng 6,28% so với tháng trước và tăng 32,1% so với tháng cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển 12,03 triệu tấn, tăng tương ứng 5,87% và 20,8%; khối lượng luân chuyển 1.056,2 triệu tấn.km, tăng 5,62% và 22,66%. Lũy kế 10 tháng, doanh thu vận tải ước tính 28.313,03 tỷ đồng, tăng 20,19% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 105,62 triệu tấn, tăng 11,87%; khối lượng luân chuyển 9.313,6 triệu tấn.km, tăng 14,69%.

Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 10/2026 ước đạt 1.600,42 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 40,19% so với tháng cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đạt 13.650,56 tỷ đồng, tăng 31,04%.

Bưu chính, chuyển phát: Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát tháng 10/2026 ước đạt 44,3 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 25,34% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 410,17 tỷ đồng, tăng 31,01% so cùng kỳ.

5.3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2026 tăng 0,54% so với tháng trước, tăng chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. So với tháng 12/2025, CPI tháng Mười tăng 3,25% và tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026, CPI tăng 4,25% so với cùng kỳ.

So với tháng trước, CPI tháng 10/2026 tăng 0,54%. Trong 11 nhóm hàng hoá dịch vụ tiêu dùng chính, có 7 nhóm hàng tăng giá. Cụ thể, nhóm giao thông tăng 2,26%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,65%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,45%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống 0,38%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,33%; nhóm giáo dục tăng 0,3%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%. Ở chiều ngược lại, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,2%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,28%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,17%; nhóm đồ dùng và dịch vụ khác giảm 0,18%.

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 10/2026 so với tháng trước của các nhóm hàng chính sau:

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,26% so với tháng trước, tác động làm tăng CPI chung 0,27 điểm phần trăm. Trong đó: chỉ số giá xăng tăng 6,55%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong nước, giá dầu mỡ tăng 2,88% và một số dịch vụ vận tải, sửa chữa phương tiện tăng giá.

Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,65%, tác động tăng 0,03 điểm phần trăm, do giá nhiều mặt hàng đồ dùng, hóa phẩm gia đình và dịch vụ sửa chữa tăng trở lại mức giá bình thường sau các đợt khuyến mãi dịp lễ; đồng thời, chi phí vận chuyển tăng do giá nhiên liệu xăng, dầu tăng cũng tác động đến giá bán.

Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,45%, tác động làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu là do giá gas tăng 10,24% kể từ ngày 01/10/2026, theo diễn biến giá gas thế giới (giá gas được điều chỉnh tăng 55.000 đồng/bình 12 kg); bên cạnh đó, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở khác tăng 0,93%, dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng 1,71%, dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 1,88% và dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 2,28%. Các yếu tố này phản ánh áp lực tăng giá từ nhóm nhiên liệu và một số dịch vụ phục vụ sinh hoạt, duy tu, bảo dưỡng nhà ở. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt giảm 1,64% và giá nước sinh hoạt giảm 0,29%, góp phần hạn chế mức tăng chung.

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,38%, tác động tăng 0,14 điểm phần trăm. Trong đó, thực phẩm tăng 0,37%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55%; riêng giá nhóm lương thực giảm 0,1%, chủ yếu do giá nhóm gạo giảm (gạo tẻ thường giảm 0,63%; gạo tẻ ngon giảm 0,16%; gạo nếp giảm 0,16%; gạo lức tẻ giảm 1,65%). Giá gạo trong nước giảm theo xu hướng thị trường xuất khẩu, nguồn cung từ các nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan tiếp tục tạo áp lực cạnh tranh về giá, trong khi nhu cầu nhập khẩu ở một số thị trường lớn chậm lại.

Các nhóm còn lại giá tăng nhẹ, gồm: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; giáo dục tăng 0,3%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,33%,

- So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 10/2026 tăng 4,52%, trong đó 9/11 nhóm hàng tăng giá, cao nhất là nhóm giao thông (+14,38%); tăng thấp nhất là thuốc và dịch vụ y tế (1,25%). Riêng 02 nhóm giảm là thông tin và truyền thông giảm 0,42% và văn hóa, giải trí và du lịch giảm 4,09%.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất tăng 7,43%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,11%; giao thông tăng 5,69%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,44%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,05%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,65%; giáo dục tăng 1,99%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1%; thông tin và truyền thông tăng 0,05%. Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,55%.

- Chỉ số giá vàng tháng 10/2026 giảm 2,87% so với tháng trước và giảm 3,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, giá vàng trong nước có nhiều phiên điều chỉnh giảm theo diễn biến của thị trường thế giới. Bình quân 10 tháng chỉ số giá vàng tăng 34,68% so với cùng kỳ năm trước

- Giá USD trong tháng giảm 0,24% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước giá USD giảm 1,09%. Bình quân 10 tháng so cùng kỳ, chỉ số giá USD tăng 1,01%.

6. Tài chính, ngân hàng

6.1. Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố 10 tháng năm 2026 đạt 85.201,1 tỷ đồng[1], bằng 84,86% dự toán HĐND thành phố giao, tăng 20,05% so cùng kỳ. Sau khi loại trừ số hoàn thuế giá trị gia tăng, số thu đạt 64.281,3 tỷ đồng, tăng 15,23%. Tiến độ thu nhìn chung đạt khá so với dự toán năm.

Thu nội địa đạt 63.250,5 tỷ đồng, chiếm 74,24% tổng thu, tăng 20,13% so với cùng kỳ, tiếp tục là nguồn thu chủ lực của ngân sách địa phương. Trong các khoản thu nội địa chủ yếu, thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 5.574,3 tỷ đồng, tăng 14,02%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18.154,9 tỷ đồng, tăng 26,15%; thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt 12.743,5 tỷ đồng, tăng 40,02%, đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất, phản ánh sự khởi sắc của các doanh nghiệp tư nhân, bên cạnh đó công tác quản lý hóa đơn điện tử, chống thất thu và thu hồi nợ đọng thuế được tăng cường. Các khoản thu về nhà, đất đạt 10.109,2 tỷ đồng, tăng 32,09% so với cùng kỳ; thu xổ số kiến thiết đạt 3.995,3 tỷ đồng, tăng 19,56%; thu từ các khoản khác của ngân sách đạt 2.024,6 tỷ đồng, tăng 11,12%; thu lệ phí trước bạ đạt 1.440,5 tỷ đồng, tăng 1,1%.

Bên cạnh các khoản thu tăng, một số khoản thu giảm so với cùng kỳ. Thuế thu nhập cá nhân 6.762,8 tỷ đồng, giảm 15,62%; thuế bảo vệ môi trường 229,8 tỷ đồng, giảm 51,44%. Điều này cho thấy kết quả thu chưa đồng đều giữa các khoản, cần tiếp tục theo dõi sát để đánh giá tiến độ thực hiện dự toán trong những tháng cuối năm.

Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu 562 tỷ đồng, giảm 81,49% so với cùng kỳ. Trong đó, tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 21.481,8 tỷ đồng, tăng 17,86%. Hoạt động logistics và vận tải quốc tế sôi động giúp kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng ổn định, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ chuỗi cung ứng công nghiệp tăng cao, đã tác động tích cực đến số thu thuế từ hoạt động này. Tuy nhiên số hoàn thuế giá trị gia tăng lên tới 20.919,8 tỷ đồng, tăng 37,72% so với cùng kỳ, làm giảm đáng kể số thu cân đối.

6.2. Chi ngân sách

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố 10 tháng năm 2026 đạt 61.900,4 tỷ đồng[2], bằng 105,31% dự toán năm và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả thực hiện chi ngân sách tập trung chủ yếu cho đầu tư phát triển và các nhiệm vụ chi thường xuyên, qua đó bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế và an sinh xã hội trên địa bàn.

Chi đầu tư phát triển đạt 33.684,4 tỷ đồng, chiếm 54,42% tổng chi, tăng 46,68% so cùng kỳ, trong đó, chi đầu tư cho các dự án theo các lĩnh vực đạt 32.924,1 tỷ đồng, tăng 46,93%. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển ở mức cao cho thấy nguồn lực ngân sách trong 10 tháng được tập trung đáng kể cho các nhiệm vụ đầu tư, góp phần bổ sung năng lực hạ tầng và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Chi thường xuyên 28.168,9 tỷ đồng, chiếm 45,51% tổng chi ngân sách, giảm 6,76% so với cùng kỳ. Trong điều hành ngân sách, cần tiếp tục quản lý chặt chẽ các khoản chi, thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách; đồng thời bảo đảm kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế và duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước.

Cơ cấu chi ngân sách trong 10 tháng cho thấy chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng lớn và tăng khá so với cùng kỳ, trong khi chi thường xuyên giảm. Diễn biến này phản ánh sự khác biệt về mức thực hiện giữa các nhóm nhiệm vụ chi. Tuy nhiên, tổng chi đã vượt dự toán năm theo số liệu báo cáo; do đó, cần tiếp tục rà soát mức thực hiện dự toán, cơ cấu các khoản chi và nguyên nhân phát sinh để đánh giá đầy đủ tình hình điều hành ngân sách trong những tháng cuối năm. Cần theo dõi sát tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chi, nhất là chi đầu tư phát triển và các khoản chi thường xuyên, bảo đảm việc sử dụng ngân sách đúng dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

6.3. Hoạt động ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến ngày 31/10/2026 ước đạt 555.300 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cuối năm. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam (VND) ước đạt 525.000 tỷ đồng, chiếm 94,54% tổng nguồn vốn huy động, tăng 15,27% so với cuối năm 2025; huy động bằng ngoại tệ ước đạt 30.300 tỷ đồng, chiếm 5,46%, tăng 1,43% so với cuối năm 2025.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng đến ngày 31/10/2026 ước đạt 651.000 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 387.000 tỷ đồng, chiếm 59,45% tổng dư nợ, tăng 5,77%; dư nợ cho vay trung và dài hạn ước đạt 264.000 tỷ đồng, chiếm 40,55%, tăng 13,57% so với cuối năm 2025.

7. Các vấn đề xã hội

7.1. Văn hóa

Trong tháng 10/2026, công tác tuyên truyền, cổ động trực quan và thông tin truyền thông trên địa bàn thành phố được triển khai đồng bộ, kịp thời, góp phần phổ biến sâu rộng các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp Nhân dân. Hoạt động bảo tàng, di tích và các không gian văn hóa trên địa bàn tiếp tục diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo người dân và du khách tham quan. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức phong phú, đa dạng, phục vụ tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của Nhân dân. Trong tháng, thành phố tổ chức thành công 09 chương trình văn nghệ phục vụ nhân dân và phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước và của thành phố; thu hút 3.700 lượt người xem.

Hoạt động điện ảnh và chiếu phim lưu động được triển khai tích cực, phục vụ đa dạng đối tượng, đặc biệt hướng về vùng sâu, biên giới và các khu công nghiệp. Trong tháng, thành phố đã thực hiện 154 buổi chiếu phim lồng ghép tuyên truyền, thu hút hơn 13.900 lượt khán giả (trong đó 82,73% là đồng bào vùng sâu, vùng xa).

Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Trong tháng 10, lượng khách du lịch ước đạt 470.000 lượt (trong đó: khách nội địa đạt 456.000 lượt, khách quốc tế đạt 14.000 lượt), doanh thu từ dịch vụ du lịch ước đạt 385 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng đầu năm 2026, ngành du lịch Đồng Nai đón khoảng 4.926.000 lượt khách, tổng doanh thu ước đạt 3.700 tỷ đồng (đạt 83,72% chỉ tiêu kế hoạch). Nhìn chung, hoạt động du lịch tiếp tục phát triển tích cực, đóng góp vào tăng trưởng khu vực dịch vụ; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa và tiềm năng du lịch của địa phương.

7.2. Hoạt động thể thao

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng trên địa bàn thành phố tiếp tục được duy trì và phát triển. Trong tháng, thành phố đã tổ chức Lễ phát động “Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên" với hơn 3.000 người tham gia; tổ chức Giải Bơi cứu đuối thành phố Đồng Nai thu hút hơn 300 vận động viên.

Thành phố đã tổ chức thành công Giải Bóng chuyền quốc tế thành phố Đồng Nai mở rộng từ ngày 17 đến 20/9/2026 với sự tham gia của các đội bóng trong và ngoài nước; chuẩn bị tổ chức Lễ xuất quân cho Đoàn Thể thao thành phố tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X vào ngày 16/10/2026.

Công tác huấn luyện, tập luyện và thi đấu được triển khai thường xuyên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng huấn luyện viên, vận động viên. Trong tháng, các đội tuyển thể thao của thành phố tham dự 12 giải thể thao trong nước và quốc tế, giành tổng cộng 19 huy chương các loại, gồm 8 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 7 huy chương đồng.

7.3. Tình hình lao động việc làm

Trong tháng 10/2026, công tác giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần hỗ trợ người lao động tiếp cận cơ hội việc làm và ổn định đời sống.

Công tác hỗ trợ việc làm được tổ chức thực hiện thường xuyên, trong tháng thành phố đã tổ chức 01 sàn giao dịch định kỳ và 01 phiên lưu động tại xã Lộc Thạnh thu hút 40 đơn vị với 12.604 chỉ tiêu tuyển dụng, dự kiến tuyển dụng 291 người. Lũy kế đến tháng 10/2026, thành phố đã tổ chức 18 phiên giao dịch việc làm (đạt 90% kế hoạch năm) và triển khai 10 phiên kết nối tuyển dụng giữa doanh nghiệp và người lao động.

Công tác tư vấn việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được đẩy mạnh, hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động và hỗ trợ người lao động lựa chọn việc làm phù hợp.

Trong tháng, thành phố đã giới thiệu việc làm cho 2.657 lượt người và giải quyết việc làm cho 1.629 lượt người, góp phần tích cực ổn định thị trường lao động và an sinh xã hội. Tính chung lũy kế đến tháng 10/2026, công tác giới thiệu việc làm thực hiện 17.689 lượt người (đạt 117,93% kế hoạch năm) và giải quyết việc làm cho 11.888 lượt người (đạt 91,45% kế hoạch năm).

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển mới 4.108 học viên; lũy kế 10 tháng năm 2026 thực hiện 54.418/57.000 học viên, đạt 95,47% kế hoạch năm. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ trong tháng là 533 người; lũy kế 10 tháng là 44.448/50.000 học viên, đạt 88,89% kế hoạch năm.

7.4. Y tế

Trong tháng 10/2026, ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm; tăng cường giám sát dịch tễ, chủ động phát hiện sớm, điều tra và xử lý triệt để các ổ dịch, đặc biệt đối với bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, sốt rét, bệnh dại và các bệnh truyền nhiễm lưu hành trên địa bàn. Đồng thời, duy trì chế độ trực phòng, chống dịch; tăng cường giám sát côn trùng, triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch, phun hóa chất tại các khu vực có nguy cơ cao nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Bên cạnh đó, bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc, hóa chất và nhân lực phục vụ công tác phòng, chống dịch, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu xử lý kịp thời các tình huống dịch bệnh phát sinh trên địa bàn.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

+ Sốt xuất huyết trong tháng, ghi nhận 4.400 ca mắc sốt xuất huyết, giảm 3,74% so với tháng trước nhưng tăng 42,86% so với cùng kỳ năm trước; có 01 ca tử vong; lũy kế tính đến ngày 9/10/2026 ghi nhận 16.897 ca mắc (Trong đó, tổng số ca mắc trẻ ≤ 15T là 7.237 ca, chiếm tỷ lệ 43%), số ca mắc giảm 6,38% so với cùng kỳ và 07 ca tử vong, tăng 02 ca so với cùng kỳ. Tính từ đầu năm, tổng số ổ dịch được phát hiện 4.749 ổ dịch, giảm 2,02% so với cùng kỳ. Tỷ lệ ổ dịch xử lý trong toàn thành phố đạt 99,9% ổ dịch phát hiện.

+ Bệnh tay chân miệng ghi nhận 2.411 ca, tăng 23,51% so với tháng trước và tăng 123,65% so với cùng kỳ, có 01 ca tử vong; lũy kế ghi nhận 12.473 ca mắc, tăng 91,51% so với cùng kỳ. Số ổ dịch được phát hiện 456 ổ dịch. Tỷ lệ ổ dịch xử lý đạt 100% ổ dịch phát hiện.

+ Sốt phát ban nghi sởi ghi nhận 04 ca, giảm 03 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng ghi nhận 80 ca, giảm 98,77% so với cùng kỳ, không có ca tử vong.

+ Bệnh ho gà trong tháng không phát sinh; lũy kế 10 tháng ghi nhận 12 ca, giảm 50 ca so với cùng kỳ, không có ca tử vong.

Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tiếp tục được tăng cường; trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm. Sở Y tế đã giám sát an toàn thực phẩm tại 02 chương trình, hội nghị, sự kiện lớn trên địa bàn và thực hiện lưu mẫu 16 mẫu thực phẩm phục vụ các bữa ăn chính và giữa giờ. Đồng thời, công tác kiểm tra, hậu kiểm được triển khai tại 25 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; trong đó, 16 cơ sở đạt yêu cầu, 09 cơ sở vi phạm bị xử phạt hành chính với tổng số tiền xử phạt là 245,6 triệu đồng.

7.5. Giáo dục

Trong tháng 10, ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027 và đẩy mạnh đổi mới giáo dục gắn với chuyển đổi số. Ngành đã tổ chức Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 từ cấp thành phố đến cơ sở, chú trọng phong trào “Bình dân học vụ số" nhằm nâng cao kỹ năng số và khả năng ứng dụng công nghệ. Đồng thời, thành phố tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập; tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học và nâng cao chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia. Đồng thời, định hướng phát triển hệ sinh thái giáo dục đại học và đẩy mạnh giáo dục STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học), góp phần phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên tiếp tục được chú trọng. Ngành đã tham gia các hội thảo, chương trình tập huấn về điều chỉnh Chương trình giáo dục phổ thông, an toàn giao thông, dạy học bằng tiếng Anh đối với môn Toán và Khoa học tự nhiên; đồng thời tổ chức bồi dưỡng phương pháp dạy học Âm nhạc, Mỹ thuật theo định hướng STEAM (Mỹ thuật với khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ sở dữ liệu ngành và giáo dục trí tuệ nhân tạo (AI).

Công tác quản lý chất lượng giáo dục và cải cách hành chính tiếp tục được thực hiện. Ngành đã tham mưu hướng dẫn tổ chức kỳ thi học sinh giỏi thành phố năm học 2026 - 2027, hoàn thành lấy ý kiến lần 2 đối với dự thảo kế hoạch tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2027 - 2028 và báo cáo sơ kết thực hiện Đề án 468 về phát triển hệ thống đánh giá diện rộng cấp quốc gia. Đáng chú ý, công tác chuyển đổi số trong quản lý văn bằng, chứng chỉ đạt kết quả tích cực, văn bằng, chứng chỉ được số hóa và dữ liệu được cập nhật đầy đủ, đạt 100% trên hệ thống quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Công tác bảo đảm chất lượng giáo dục, thẩm định tiêu chí giáo dục trong xây dựng nông thôn mới và giải quyết thủ tục liên quan đến văn bằng tiếp tục được thực hiện theo quy định.

7.6. Tình hình trật tự an toàn xã hội, tai nạn giao thông, cháy, nổ, thiên tai

​Vi phạm lĩnh vực môi trường: Trong tháng 10 năm 2026, toàn thành phố phát hiện 15 vụ vi phạm về môi trường; xử phạt hành chính 03 vụ và 03 đối tượng, với tổng số tiền xử phạt 248,4 triệu đồng. Số vụ vi phạm giảm 20 vụ, giảm 57,14% so tháng trước và giảm 13 vụ, giảm 46,43% so cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, toàn thành phố phát hiện 624 vụ vi phạm; xử phạt hành chính 504 vụ, với tổng số tiền 12.806,01 triệu đồng. 

Tình hình giao thông: Trong tháng, trên địa bàn thành phố xảy ra 68 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 47 người và bị thương 28 người; giảm 6 vụ, giảm 8,11% so tháng trước và giảm 21 vụ, giảm 23,6% so cùng kỳ. Đối với giao thông đường sắt, trong tháng xảy ra 01 vụ, làm 01 người bị thương.

Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, xảy ra 781 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 538 người, bị thương 361 người, tăng 23 vụ, tương ứng tăng 3,03% so cùng kỳ; 3 vụ tai nạn đường thủy làm 2 người chết và 1 người bị thương; 01 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu do vi phạm tốc độ, thiếu quan sát, lấn làn, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông và đi sai phần đường.

Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 10/2026, trên địa bàn thành phố xảy ra 4 vụ cháy, nổ, tăng 2 vụ so với tháng trước và tăng 01 vụ so cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản đang được thống kê. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 53 vụ, giảm 18 vụ, tương ứng giảm 25,35% so với cùng kỳ; làm 7 người chết, 1 người bị thương; tổng thiệt hại tài sản ước tính 5.400 triệu đồng. Hiện tại, Công an thành phố đang điều tra làm rõ nguyên nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, tuyên truyền an toàn phòng cháy chữa cháy nhằm kiềm chế và làm giảm tối đa hỏa hoạn.

Tình hình thiên tai: Trong tháng 10 năm 2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 14 đợt mưa lớn diện rộng, làm 01 người chết do nước cuốn trôi, 01 căn nhà bị sập hoàn toàn và 474 căn nhà bị ngập, tốc mái. Mưa lớn gây ngập úng 677 ha lúa; 1,8 ha hoa màu; 221,75 ha cây trồng lâu năm và cây hàng năm khác; 356,05 ha diện tích nuôi trồng thủy sản cùng 480 con gia cầm bị cuốn trôi, đồng thời gây ngập úng cục bộ nhiều tuyến đường tại các phường Trảng Dài, Hố Nai, Phước Tân... Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 12,5 tỷ đồng. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn địa phương đã phối hợp với chính quyền các cấp kịp thời hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống và sản xuất.

Thống kê TP. Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​

​

Chung nhan Tin Nhiem Mang