Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Tình hình kinh tế - xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026

Trong quý III và 9 tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Căng thẳng thương mại, xung đột địa chính trị và những điều chỉnh về chính sách thuế quan của một số nền kinh tế lớn tác động đến thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu. Biến động giá năng lượng, chi phí vận tải quốc tế cùng với thời tiết, thiên tai tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống.

Trong nước, hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục chuyển biến tích cực; công nghiệp, thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu tăng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, biến động giá nguyên vật liệu, năng lượng và chi phí vận tải vẫn gây áp lực lên doanh nghiệp và mặt bằng giá. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, đẩy mạnh đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội.

Trên địa bàn thành phố Đồng Nai, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 tiếp tục được triển khai; đầu tư kết cấu hạ tầng được đẩy mạnh, các khó khăn trong sản xuất, kinh doanh từng bước được tháo gỡ. Với sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố và nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, hoạt động kinh tế trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.

Kết quả cụ thể trên các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng năm 2026 như sau:

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Tăng trưởng kinh tế

Kinh tế thành phố Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III năm 2026 ước tăng 10,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,49%, đóng góp 6,94 điểm phần trăm, chiếm khoảng 67,93% mức tăng trưởng chung, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu của nền kinh tế thành phố. Khu vực dịch vụ tăng 9,51%, đóng góp 2,42 điểm phần trăm, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,69%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm, tiếp tục duy trì sản xuất, bảo đảm nguồn cung nông sản và ổn định sinh kế cho người dân. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,08%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, GRDP ước tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,14%, đóng góp 6,59 điểm phần trăm, tương đương khoảng 65,82% mức tăng trưởng chung; khu vực dịch vụ tăng 8,98%, đóng góp 2,35 điểm phần trăm; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,82%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,80%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm. Kết quả này cho thấy các khu vực kinh tế đều duy trì tăng trưởng, trong đó công nghiệp và xây dựng đóng góp chủ yếu, tiếp đến là dịch vụ. Đây là cơ sở để thành phố tiếp tục tập trung thúc đẩy sản xuất công nghiệp, đầu tư xây dựng và phát triển dịch vụ trong những tháng cuối năm.

Quy mô GRDP 9 tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 552.117,55 tỷ đồng, tăng thêm 66.594,18 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2025. Xét theo khu vực kinh tế, giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 40.726,99 tỷ đồng, chiếm phần lớn mức tăng quy mô GRDP; khu vực dịch vụ tăng thêm 17.461,22 tỷ đồng; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng thêm 5.058,92 tỷ đồng. Quy mô theo giá hiện hành được mở rộng, cùng với mức tăng trưởng theo giá so sánh đạt 10,01%, cho thấy nền kinh tế thành phố tiếp tục phát triển.

Về cơ cấu kinh tế 9 tháng năm 2026, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 55,31%; khu vực dịch vụ chiếm 26,41%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,90%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,38%. Cơ cấu này tiếp tục thể hiện vị trí chủ đạo của công nghiệp và xây dựng trong nền kinh tế Đồng Nai. Đồng thời, khu vực dịch vụ giữ vai trò hỗ trợ sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản góp phần duy trì sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.

2. Tài chính, ngân hàng

2.1. Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố 9 tháng năm 2026 đạt 76.722,26 tỷ đồng[1], bằng 76,42% dự toán HĐND thành phố giao, tăng 19,74% so cùng kỳ. Sau khi loại trừ số hoàn thuế giá trị gia tăng, số thu đạt 58.109,78 tỷ đồng, tăng 15,67%. Tiến độ thu nhìn chung đạt khá so với dự toán năm.

Thu nội địa đạt 56.923,47 tỷ đồng, chiếm 74,19% tổng thu, tăng 20,37% so với cùng kỳ; Thu cân đối hoạt động xuất nhập khẩu đạt 734,45 tỷ đồng, giảm 74,3% so với cùng kỳ.

2.2. Chi ngân sách

Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố 9 tháng đầu năm 2026 đạt 56.336,75 tỷ đồng, bằng 95,85% dự toán năm và tăng 13,24% so với cùng kỳ. trong đó: Chi đầu tư phát triển đạt 31.803,53 tỷ đồng, chiếm 56,45% tổng chi, tăng 44,43% so cùng kỳ, trong đó, chi đầu tư cho các dự án theo các lĩnh vực đạt 31.100,65 tỷ đồng, tăng 44,89%.

Chi thường xuyên đạt 24.488,69 tỷ đồng, chiếm 43,47% tổng chi, giảm 11,63% so với cùng kỳ.

2.3. Hoạt động ngân hàng

Trên địa bàn thành phố Đồng Nai hiện có 134 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng và tài chính, gồm: 90 chi nhánh ngân hàng, 38 quỹ tín dụng nhân dân, 01 công ty tài chính và 05 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô.

Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến ngày 30/9/2026 ước đạt 550.000 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cuối năm 2025 và tăng 18,89% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng đến ngày 30/9/2026 ước đạt 655.200 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cuối năm 2025 và tăng 13,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn ước đạt 394.000 tỷ đồng, chiếm 60,13% tổng dư nợ, tăng 7,68% so với cuối năm 2025; dư nợ cho vay trung và dài hạn ước đạt 261.200 tỷ đồng, chiếm 39,87%, tăng 12,37%.

3. Giá cả thị trường

Trong tháng 9/2026, giá xăng, dầu trong nước tăng theo diễn biến thị trường thế giới, tác động đến giá nhóm giao thông. Cùng với đó, giá một số dịch vụ giáo dục tăng vào thời điểm bắt đầu năm học mới. Các yếu tố này góp phần làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,43% so với tháng trước và 4,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,22% so với cùng kỳ. Diễn biến giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ cụ thể như sau:

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 tăng 0,43%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng, góp phần làm CPI chung tăng. Trong đó, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 3,31%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo diễn biến giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm cho chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng, giá xăng tăng 9,23%, dầu diesel tăng 4,54%; giá vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 6,21%;…

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,71%, chủ yếu do giá một số mặt hàng tăng như: nước khoáng tăng 1,47%; nước giải khát có ga tăng 1,05%; rượu mạnh tăng 1,14%; rượu vang tăng 0,76%; thuốc lá tăng 1,46%; thuốc lào tăng 1,39%. Giá nhóm đồ uống tăng được ghi nhận trong bối cảnh chi phí một số nguyên liệu và vật tư đầu vào như đường, bao bì, chai lọ, hương liệu có biến động;

May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,52% so với tháng trước. Một số mặt hàng có mức tăng đáng kể gồm: quần áo may sẵn cho trẻ em tăng 1,77%; găng tay, thắt lưng, cà vạt tăng 1,44%; giày, dép cho trẻ em tăng 1,93%; dịch vụ sửa chữa và thuê quần áo tăng 0,55%. Mức tăng của nhóm chủ yếu gắn với nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép phục vụ học sinh trong thời điểm đầu năm học.

Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác cũng tăng nhẹ, gồm: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,3%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, góp phần kiềm chế mức tăng chung của CPI trong tháng. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,01%, trong đó lương thực giảm 0,39%; thông tin và truyền thông giảm 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,98%. Mức giảm của các nhóm trên chủ yếu do giá một số mặt hàng và dịch vụ trong nhóm có biến động giảm so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý III năm 2026 tăng 3,81% so với quý III năm 2025. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 9 nhóm có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong các nhóm có chỉ số giá tăng, nhóm giao thông tăng cao nhất, tăng 7,27%, chủ yếu chịu tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá một số dịch vụ vận tải trong kỳ so sánh. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng thấp nhất tăng 0,97%. Riêng trong Quý III có 02 nhóm giảm so cùng kỳ là văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,1%; thông tin và truyền thông giảm 0,03%. Diễn biến giảm giá của hai nhóm này góp phần hạn chế mức tăng CPI chung trong quý.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với mức 7,43%; đồ uống và thuốc lá tăng 7,07%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 5,43%; giao thông tăng 4,76%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,97%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,61%; giáo dục tăng 2,01%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,97%; thông tin và truyền thông tăng 0,1%. Riêng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,38%.

Để tăng cường quản lý giá trong những tháng cuối năm 2026, Chủ tịch UBND thành phố Đồng Nai đã ban hành Công văn số 9695/UBND-KTNS ngày 21/9/2026, yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường thực hiện nhiệm vụ quản lý giá theo chức năng được giao. Chi cục Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi lợi dụng biến động giá xăng dầu để đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý, góp phần ổn định thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

- Chỉ số giá vàng tháng 9/2026 tăng 1,81% so với tháng trước và tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 39,74% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá USD tháng 9/2026 giảm 0,19% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 1,16%, Bình quân 9 tháng, chỉ số giá USD tăng 1,24% so cùng kỳ.

4. Đầu tư và xây dựng

4.1. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn thành phố quý III/2026 ước tính 51.922,64 tỷ đồng, tăng 6,57% so với quý II/2026 và 14,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn là 15.726,47 tỷ đồng, tăng 15,25% so với quý II và 18,64% so với cùng kỳ; vốn ngoài nhà nước là 18.604,18 tỷ đồng, tăng 3,14% so với quý II và 15,37% so với cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 17.591,99 tỷ đồng, tăng 3,26% so với quý II và 10,86% so với cùng kỳ.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện 142.921,73 tỷ đồng, tăng 11,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước trên địa bàn là 39.362,33 tỷ đồng, tăng 10,55%; vốn ngoài nhà nước là 53.340,12 tỷ đồng, tăng 14,68%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 50.219,28 tỷ đồng, tăng 9,82%.

4.3. Hoạt động xây dựng

­Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng trưởng, gắn với việc triển khai các công trình giao thông, chỉnh trang đô thị, nhà ở xã hội, thương mại và giáo dục. Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý III/2026 ước tính 39.124,81 tỷ đồng, tăng 15,17% so với quý II và 28,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất ước tính 101.548,88 tỷ đồng, tăng 19,75% so với cùng

5. Thu hút đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Thu hút đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 25/9/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trên địa bàn thành phố là 2.351,73 triệu USD, tương đương 78,39% kế hoạch năm. Trong đó, 78 dự án được cấp mới với tổng vốn đăng ký 1.044,83 triệu USD; 101 dự án điều chỉnh tăng vốn, bổ sung 1.306,90 triệu USD. Vốn đăng ký tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.

Thu hút đầu tư trong nước: Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký tại các dự án trong và ngoài khu công nghiệp đến ngày 25/9/2026 là 861.379,85 tỷ đồng[2], gấp 5,4 lần kế hoạch năm. Trong đó, 18 dự án ngoài khu công nghiệp được cấp mới với tổng vốn đăng ký khoảng 839.197 tỷ đồng; 19 dự án trong khu công nghiệp được cấp mới với khoảng 6.736,35 tỷ đồng. Có 24 dự án điều chỉnh tăng vốn, bổ sung khoảng 15.496,50 tỷ đồng; một dự án trong khu công nghiệp điều chỉnh giảm 50 tỷ đồng. Mức tăng vốn đăng ký chủ yếu đến từ một số dự án khu đô thị và nhà ở quy mô lớn trong kỳ.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp: Trong tháng 9/2026, có khoảng 483 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 28,4% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 16.185 tỷ đồng, gấp 2 lần cùng kỳ. Có 75 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 16,7%. Trong cả quý III/2026, có 1.445 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 34.272 tỷ đồng, giảm 38,5% so với quý III/2025.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, ước có 6.100 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 0,91% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 255.700 tỷ đồng, gấp hơn 5 lần. Có 1.310 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,3%. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhẹ, trong khi số quay trở lại hoạt động thấp hơn cùng kỳ.

Tình hình giải thể, tạm ngừng kinh doanh: Trong tháng 9/2026, có 271 doanh nghiệp đăng ký giải thể, tăng 11% so với cùng kỳ; 105 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, giảm 26,6%. Lũy kế 9 tháng, có khoảng 1.850 doanh nghiệp đăng ký giải thể, tăng 76,5%; 2.685 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 0,7%. Số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cho thấy một bộ phận doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn trong duy trì hoạt động, nhất là trước áp lực về chi phí và thị trường tiêu thụ.

Công tác hỗ trợ doanh nghiệp: Trong 9 tháng năm 2026, thành phố tổ chức 5 hội nghị chuyên đề để gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực; giải quyết hơn 240 kiến nghị. Các kiến nghị còn lại đã được phân công cơ quan chủ trì theo dõi, đôn đốc giải quyết. Nội dung trao đổi tập trung vào tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực; thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và cải cách thủ tục hành chính.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố nhìn chung ổn định. Trong đó, lĩnh vực trồng trọt chuyển dịch tích cực sang các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, chăn nuôi tăng trưởng ổn định nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh

6.1. Nông nghiệp

Cây lúa là 61.665 ha, tăng 204 ha (+0,33%) so cùng kỳ, bao gồm: Diện tích lúa vụ Đông Xuân 18.755 ha, tăng 205 ha (+1,11%); vụ Hè Thu 18.489 ha, tăng 25 ha (+0,14%); vụ Mùa 24.421 ha, giảm 26 ha (-0,11%).

Một số loại cây trồng khác có diện tích tăng so với cùng kỳ như: Khoai lang 354 ha, tăng 15 ha (+4,42%); lạc 1.207 ha, tăng 122 ha (+11,24%); đậu các loại 3.952 ha, tăng 140 ha (+3,67%). Việc mở rộng diện tích các loại cây trồng này chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định, giá bán duy trì ở mức có lợi cho người sản xuất, chi phí đầu tư hợp lý và hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác, qua đó tạo động lực để người dân duy trì và mở rộng sản xuất.

Ở chiều ngược lại, diện tích một số cây trồng giảm so với cùng kỳ như: Đậu tương 281 ha, giảm 19 ha (-6,33%); bắp 35.976 ha, giảm 212 ha (-0,59%); rau các loại 19.518 ha, giảm 518 ha (-2,59%). Nguyên nhân chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng.

Vụ Đông Xuân năm 2026, tổng diện tích gieo trồng là 45.697,60 ha, giảm 0,08% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa 18.754,68 ha, tăng 1,10%; năng suất 64,38 tạ/ha, tăng 2,39%; sản lượng 120.746,85 tấn, tăng 3,52%. Năng suất và sản lượng lúa tăng nhờ đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất và sử dụng các giống lúa có năng suất cao. Diện tích bắp 9.691,73 ha, giảm 2,32%; năng suất 89,49 tạ/ha, sản lượng 86.732,06 tấn, giảm 0,73%. Diện tích lạc 467,30 ha, tăng 26,91%, với năng suất 21,51 tạ/ha và sản lượng 1.005,11 tấn. Diện tích khoai lang 111,89 ha, tăng 16,80%; đậu tương 105,50 ha, giảm 14,64%. Rau các loại được gieo trồng trên 6.366,59 ha, giảm 6,93%, cho sản lượng 106.458,01 tấn với năng suất 167,23 tạ/ha. Diện tích đậu các loại 1.324,63 ha, tăng 7,93%; năng suất 14,52 tạ/ha, sản lượng 1.923,84 tấn, tăng 11,33%.

Vụ Hè Thu năm 2026, tổng diện tích gieo trồng ước tính 56.086,08 ha, giảm 0,06% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa 18.488,66 ha, tăng 0,13%; năng suất 60,98 tạ/ha và sản lượng 112.735,81 tấn, tăng 2,61%. Diện tích bắp 12.690,38 ha, giảm 0,33%; năng suất 86,57 tạ/ha và sản lượng 109.862,52 tấn, tăng 2,11%.

Diện tích lạc 318,10 ha, giảm 0,93%, với năng suất 21,94 tạ/ha và sản lượng 697,77 tấn; khoai lang 74,77 ha, tăng 2,35%. Rau các loại được gieo trồng trên 6.157,91 ha, tăng 0,41%; năng suất 177,92 tạ/ha và sản lượng 109.559,49 tấn, tăng 2,06%. Diện tích đậu các loại 1.218,93 ha, tăng 0,48%; năng suất 14,22 tạ/ha và sản lượng 1.733,53 tấn, tăng 1,60%.

Vụ Mùa năm 2026 đang trong giai đoạn xuống giống và chăm sóc, với tổng diện tích gieo trồng ước tính 61.825,29 ha, giảm 0,06% so với vụ Mùa năm trước. Trong đó, diện tích lúa 24.420,54 ha, giảm 0,11%; bắp 13.594,08 ha, tăng 0,46%; rau các loại 6.993,22 ha, giảm 0,98%; đậu các loại 1.408,15 ha, tăng 2,64%. Ngành nông nghiệp và các địa phương tiếp tục theo dõi tiến độ gieo trồng, hướng dẫn chăm sóc cây trồng phù hợp với điều kiện thời tiết trong thời gian còn lại của vụ.

Cây lâu năm:

Tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 615.165,74 ha, giảm 103,12 ha (-0,02%) so cùng kỳ. Trong đó:

 - Nhóm cây ăn quả tiếp tục mở rộng mạnh mẽ với diện tích ước đạt 105.515,42 ha, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 17,15% tổng diện tích cây lâu năm. Diện tích cây ăn quả tập trung tại các địa bàn có lợi thế thổ nhưỡng như Bàu Hàm, Thanh Sơn, Gia Kiệm, Tân Phú, Phú Vinh, La Ngà… Nhờ diện tích trồng mới các năm trước bước vào giai đoạn cho sản phẩm ổn định cùng áp dụng kỹ thuật thâm canh cao, một số loại cây ăn quả chủ lực tăng trưởng tích cực:

+ Sầu riêng: Diện tích đạt 28.298,33 ha (+1,44%); sản lượng đạt 122.800,99 tấn, tăng 7,27% so với cùng kỳ. Trong quý III/2026, có thêm khoảng 1.300 ha sầu riêng bước vào năm thứ 4 - 5 bắt đầu cho thu hoạch sản phẩm.

+ Chuối: Diện tích đạt 20.687,85 ha (+2,72%); sản lượng đạt 348.817,54 tấn, tăng 9,95%. Năng suất bình quân đạt từ 500 – 700 tạ/ha trên diện tích 115 vùng trồng được cấp mã số.

Một số cây ăn quả góp phần vào mức tăng trưởng như: Xoài 12.088,70 ha (+0,83%), sản lượng đạt 109.067,80 tấn, tăng 7,07%; Bưởi 11.059,83 ha (+1,70%), sản lượng đạt 85.575 tấn, tăng 7,72%; Mít 10.939,56 ha (+1,68%), sản lượng đạt 77.363,79 tấn, tăng 7,20% so với cùng kỳ.

Tính đến tháng 9/2026, toàn thành phố đã được cấp 314 mã số vùng trồng xuất khẩu (quy mô 22.075 ha) và 83 cơ sở đóng gói đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Australia, New Zealand, Thái Lan (tăng 41 mã số vùng trồng và 9 cơ sở đóng gói so với quý II/2026). Thành phố tổ chức thành công Lễ hội xuất khẩu chuối, Lễ hội Quả điều vàng, Tuần lễ tôn vinh trái cây và sản phẩm OCOP năm 2026, hỗ trợ việc kết nối cung cầu, mở rộng thị trường tiêu thụ và khẳng định thương hiệu trái cây địa phương.

- Nhóm cây công nghiệp lâu năm tiếp tục giữ vị trí then chốt về quy mô diện tích với 506.505,83 ha (-0,33%) và chiếm 82,34% tổng diện tích cây lâu năm.

Tổng đàn gia súc có đến thời điểm tháng 9/2026 là 4.461.919 con, tăng 4,04%; sản lượng thịt gia súc xuất chuồng đạt 706.626,04 tấn, tăng 4,67% so với cùng kỳ. Quy mô tổng đàn và sản lượng xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2026 của hầu hết các vật nuôi chủ lực đều ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

Đàn bò hiện có 160.480 con (+3,47%) và đàn trâu 16.824 con (+1,99%), cho sản lượng thịt hơi xuất chuồng lần lượt đạt 9.324,67 tấn (+5,16%) và 1.546,15 tấn (+2,92%) đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trên địa bàn.

Đàn heo 3.945.210 con (không tính heo con chưa tách mẹ), duy trì mức tăng trưởng khá 4,44% so với cùng kỳ, chiếm 88,4% tổng đàn gia súc và đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào tổng sản lượng thịt trên địa bàn; Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 695.755,22 tấn, tăng 4,66% so cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm có đến thời điểm tháng 9/2026 là 37.878,86 ngàn con, tăng 4,57%; sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng đạt 223.161,48 tấn, tăng 4,17% so với cùng kỳ. Trong đó đàn gà đạt 34.215,30 ngàn con, tăng 4,71% so cùng kỳ và chiếm 90,3% tổng đàn gia cầm; sản lượng đạt 198.779,39 tấn, tăng 4,29% so với cùng kỳ. Sản lượng trứng đạt 1.391.271 nghìn quả, tăng 3,84% so với cùng kỳ.

6.2. Lâm nghiệp

Dự ước diện tích rừng trồng mới trong tháng 9/2026 đạt 448,64 ha, tăng 5,82% so với cùng kỳ; tính riêng quý III/2026 đạt 1.175,63 ha, tăng 4,88% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 3.727,74 ha, tăng 5,27% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước khai thác 43.372,57 m³, tăng 5% so với cùng kỳ. Quý III/2026 ước thực hiện 121.768,50 m³, tăng 4,99% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 330.522,82 m³, tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước.

6.3. Thủy sản

Tổng sản lượng quý III/2026 ước tính 25.488,06 tấn, tăng 6,02%; lũy kế 9 tháng ước tính 71.620,81 tấn, tăng 6,29%.

- Sản lượng cá trong tháng 7.944,4 tấn, tăng 6,31%; quý III/2026 ước 20.758,19 tấn, tăng 6,90%; lũy kế 9 tháng 58.075,63 tấn, tăng 7,13% so cùng kỳ. Riêng cá tra nuôi công nghiệp, sản lượng thu hoạch tháng 9 ước tính 784,17 tấn, tăng 4,40%; lũy kế 9 tháng 4.828,63 tấn, tăng 4,87% so cùng kỳ.

- Sản lượng tôm tháng 9 ước tính 1.322,22 tấn, tăng 3,93%; quý III ước 3.051,51 tấn, tăng 4,63%; lũy kế 9 tháng 6.801,59 tấn, tăng 4,50%. Trong tháng, sản lượng tôm sú ước tính 106,26 tấn, tăng 1,15%; tôm thẻ chân trắng 1.209,95 tấn, tăng 4,14% so cùng kỳ.

- Thủy sản khác: Sản lượng tháng 9 ước tính 266,56 tấn, tăng 1,90%; quý III ước 658,68 tấn, tăng 3,76%; lũy kế 9 tháng 1.566,72 tấn, tăng 3,60% so cùng kỳ.

7. Sản xuất công nghiệp

Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, với chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 12,55% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động sản xuất của doanh nghiệp tiếp tục được duy trì và mở rộng, trong đó có sự đóng góp của các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh được triển khai trên địa bàn thành phố. Riêng tháng 9 năm 2026, IIP ước tăng 5,17% so với tháng trước. Mức tăng được ghi nhận ở cả bốn ngành công nghiệp cấp I, gồm: công nghiệp khai khoáng tăng 0,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,26%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,47%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,82%.

So với cùng kỳ năm 2025, IIP tháng 9 năm 2026 ước tăng 17,98%. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,82%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,69%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 55,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,57%.

Trong tháng 9 năm 2026, IIP của các ngành công nghiệp cấp II đều tăng so với tháng trước. Một số ngành có mức tăng cao như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,88%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 12,94%; sản xuất trang phục tăng 7,38%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 6,85%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 6,15%; …

Tính chung quý III năm 2026, IIP toàn ngành công nghiệp tăng 12,55% so với cùng kỳ năm 2025. Cả 4 nhóm ngành công nghiệp cấp I đều có chỉ số sản xuất tăng, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 18,73%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,41%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 42,87%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,57%.

Một số ngành công nghiệp cấp II có mức tăng cao so với cùng kỳ quý III năm 2025, gồm: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 80,66%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 64,16%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 42,87%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 38,23%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 33,52%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,50%; …

Lũy kế 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 12,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 9,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,57%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 37,58%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,84%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 46,06%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 37,96%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 37,58%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 27,06%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 25,31%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 25,11% ...Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số giảm so với cùng kỳ năm trước như: In, sao chép bản ghi các loại giảm 5,36%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 3,42%; …

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu:

Trong tháng 9/2026, sản lượng một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Máy giặt tăng 93,40%; điện sản xuất tăng 70,67%; ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng tăng 35,31%; giường, tủ, bàn ghế tăng 27,02%. Sản lượng thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 17,41%; đá xây dựng các loại tăng 16,87%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 16,07%; săm, lốp các loại tăng 15,45%.

Tính chung quý III/2026, các sản phẩm trên tiếp tục duy trì mức tăng so với cùng kỳ. Máy giặt tăng 74,35%; điện sản xuất tăng 56,31%; ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng tăng 32,46%; giường, tủ, bàn ghế tăng 24,91%. Đá xây dựng các loại tăng 15,81%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 14,25%; thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản tăng 13,62%; săm, lốp các loại tăng 12,27%.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng điện tăng 48,27%; máy giặt tăng 43,57%; ván ép, gỗ cưa, gỗ lạng tăng 25,14%; giường, tủ, bàn ghế tăng 21,85%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 18,35%; bê tông trộn sẵn tăng 14,90%. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ và đẩy nhanh sản xuất để đáp ứng đơn hàng đã góp phần vào mức tăng của các sản phẩm này và chỉ số sản xuất công nghiệp chung. Tuy nhiên, sản lượng một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: cà phê các loại giảm 18,44%; bột ngọt giảm 11,95%; vải các loại giảm 6,88%; thuốc lá sợi giảm 5,97%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2026 ước tính giảm 9,11% so với tháng trước và giảm 3,58% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ vẫn tăng 7,16% so với cùng kỳ. Một số ngành có mức tăng cao gồm sản xuất phương tiện vận tải khác (83,29%); sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu (54,51%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (28,94%); sản xuất xe có động cơ (28,87%) và sản xuất kim loại (28,11%). Nhu cầu thị trường cải thiện cùng với năng lực sản xuất được củng cố đã tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì sản lượng, bảo đảm tiến độ giao hàng cho đối tác. Sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ góp phần duy trì mức tăng chung trong 9 tháng.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 9 năm 2026 tăng 0,32% so với tháng trước và tăng 1,06% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,10% so với tháng trước và giảm 5,68% so với tháng cùng kỳ năm trước; Tương tự: Lao động doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,03% và tăng 20,49%; Lao động doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,36% và giảm 3,77%.

Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 1,91% so với cùng kỳ năm 2025, riêng ngành khai khoáng có chỉ số sử dụng lao động giảm 0,43% so với cùng kỳ; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,69%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 17,76%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,72% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2026 tăng 26,44% so với tháng trước và tăng 30,78% so với tháng cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 346,16%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 85,85%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 64,37%; Sản xuất trang phục tăng 61,13%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 49,42%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 44,34%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,78%.

* Xu hướng sản xuất kinh doanh

Theo kết quả điều tra doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý III/2026 có 29,78% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn quý trước; 50,00% cho rằng tình hình ổn định và 20,22% nhận định khó khăn hơn. Dự kiến đối với quý IV/2026, 30,90% doanh nghiệp dự báo tình hình sẽ tốt hơn quý III; 51,40% dự báo ổn định và 17,70% cho rằng sẽ khó khăn hơn. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tốt lên cao hơn tỷ lệ dự báo khó khăn, cho thấy kỳ vọng về hoạt động sản xuất, kinh doanh trong quý IV có chuyển biến tích cực.

8. Thương mại dịch vụ, xuất nhập khẩu và vận tải

8.1. Thương mại dịch vụ

Hoạt động thương mại, dịch vụ tiêu dùng và du lịch trên địa bàn thành phố trong quý III và 9 tháng năm 2026 tiếp tục tăng trưởng. Sức mua nội địa phục hồi; các chương trình khuyến mại, kích cầu được triển khai thường xuyên tại siêu thị và trung tâm thương mại. Nhiều điểm bán lẻ kết hợp mua sắm với ẩm thực, vui chơi giải trí để thu hút khách, nhất là vào cuối tuần và dịp lễ. Các chuỗi cửa hàng tiện lợi như WinMart, Bách Hóa Xanh, Co.op Food, GS25 và FamilyMart tiếp tục mở rộng tại khu dân cư, khu vực gần khu công nghiệp, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân và người lao động.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 năm 2026 ước đạt 41.162 tỷ đồng, tăng 3,63% so tháng trước và tăng 18,98% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 344.178,89 tỷ đồng, tăng 17,44% so cùng kỳ (Nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 13,22%). Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 16,36%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 20,1%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 15,4% và doanh thu dịch vụ khác tăng 19,17%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9 ước đạt 26.810,67 tỷ đồng, tăng 3,75% so với tháng trước, tăng 17,48% so cùng kỳ. Quý III năm 2026 ước đạt 78.120,52 tỷ đồng, tăng 17,65% so với quý cùng kỳ năm trước; Lũy kế 9 tháng doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 225.431,89 tỷ đồng, tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều có mức tăng so với cùng kỳ. Trong đó, xăng, dầu các loại tăng 29,05% do biến động giá và nhu cầu sản xuất và hoạt động vận tải tăng; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 15,59%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 20,38%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,25%; hàng may mặc tăng 13,93%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 13,43%; lương thực, thực phẩm tăng 13,27%; ô tô các loại tăng 7,83%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 5,79%...

Theo thông tin tổng hợp của Sở Công Thương, sức mua tại các siêu thị, trung tâm thương mại trong dịp Quốc khánh 2/9 tăng khoảng 15–25% so với cùng kỳ và 10–15% so với các ngày cuối tuần thông thường. Tại Lotte Mart Đồng Nai, sức mua tăng khoảng 20% so với cùng kỳ; MM Mega Market Biên Hòa ghi nhận lượng khách tăng 15–20%, gắn với các chương trình giảm giá đến 50%. Lượng khách và sức mua tại Co.opmart Biên Hòa trong những ngày đầu kỳ nghỉ lễ tăng khoảng 10–15% so với cuối tuần thông thường. Tại GO! Đồng Nai, doanh thu và sức mua tăng khoảng 15–20% so với ngày cuối tuần thông thường; chương trình ưu đãi được triển khai từ ngày 27/8 đến 9/9/2026. Sức mua bánh trung thu trong tháng cũng có xu hướng tăng so với cùng thời điểm năm trước.

Hạ tầng bán lẻ hiện đại tiếp tục được đầu tư, nâng cấp. Hệ thống GO! thuộc Tập đoàn Central Retail (Thái Lan) đã hoàn thành nâng cấp Trung tâm thương mại GO! Đồng Nai trong tháng 01/2026 và đưa Siêu thị GO! Bình Long vào hoạt động trong tháng 9/2026.

- Dự ước doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 9 ước đạt 5.773,11 tỷ đồng, tăng 3,32% so với tháng trước; ước tính quý III năm 2026 đạt 16.906,8 tỷ đồng, tăng 22,28% so cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu lưu trú, ăn uống ước đạt 47.782,25 tỷ đồng, tăng 20,11% so cùng kỳ, trong đó: Doanh thu lưu trú tăng 17,08%; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 20,19%.

Doanh thu du lịch lữ hành tháng 9 ước đạt 47,6 tỷ đồng, tăng 3,98% so với tháng trước. Ước tính quý III năm 2026 đạt 139,56 tỷ đồng, tăng 15,22% so cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ước đạt 374,13 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác tháng 9 năm 2026 ước đạt 8.530,57 tỷ đồng, tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 21,65% so với cùng kỳ. Dự tính quý III năm 2026 ước đạt 24.871,49 tỷ đồng, tăng 20,66% so cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ước đạt 70.590,63 tỷ đồng, tăng 19,17% so cùng kỳ.

8.2. Kim ngạch xuất, nhập khẩu

Theo số liệu tổng hợp của Chi cục Hải quan khu vực XVIII, kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2026 là 24,13 tỷ USD, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò chủ yếu, chiếm 73,97% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực gồm giày dép (3,75 tỷ USD); máy móc, thiết bị (2,74 tỷ USD); dệt may (1,47 tỷ USD); phương tiện vận tải và phụ tùng (1,24 tỷ USD); xơ, sợi dệt (0,82 tỷ USD). Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 8,16 tỷ USD, chiếm 33,8% tổng kim ngạch; tiếp đến là Trung Quốc 3,05 tỷ USD (12,6%), Nhật Bản 1,98 tỷ USD (8,2%) và Hàn Quốc 0,96 tỷ USD (4,0%). Các thị trường còn lại chiếm 41,4%.

Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng là 17,11 tỷ USD, tăng 6,16% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (2,08 tỷ USD); hạt điều (2,08 tỷ USD); chất dẻo nguyên liệu (1,14 tỷ USD); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (1,08 tỷ USD); hóa chất (1,03 tỷ USD); vải các loại (0,63 tỷ USD); nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày (0,58 tỷ USD).

Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của thành phố với 6,19 tỷ USD, chiếm 36,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tiếp theo là Hàn Quốc 1,48 tỷ USD (8,66%), Campuchia 1,23 tỷ USD (7,18%), Hoa Kỳ 1,15 tỷ USD (6,7%) và Nhật Bản 0,98 tỷ USD (5,74%).

 Tính chung 8 tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,02 tỷ USD.

8.3. Giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 9/2026 ước tính 5.159 tỷ đồng, tăng 0,94% so với tháng trước và 20,14% so với cùng kỳ. Quý III/2026 ước tính 15.258 tỷ đồng, tăng 21,10%; lũy kế 9 tháng là 43.475 tỷ đồng, tăng 20,50% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể từng lĩnh vực như sau:

Vận tải hành khách:  tiếp tục tăng ở cả doanh thu và khối lượng vận chuyển. Trong tháng 9, doanh thu ước tính 798 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước và 25,70% so với cùng kỳ. Số lượt khách vận chuyển là 9,4 triệu lượt, tăng tương ứng 1,38% và 11,92%; khối lượng luân chuyển 643,6 triệu lượt khách.km, tăng 0,67% và 8,37%.

Tính chung quý III/2026, doanh thu vận tải hành khách ước tính 2.359 tỷ đồng, tăng 26,15% so với cùng kỳ; vận chuyển 27,9 triệu lượt khách, tăng 12,24%; luân chuyển 1.918,7 triệu lượt khách.km, tăng 9,53%. Lũy kế 9 tháng, doanh thu ước tính 6.625 tỷ đồng, tăng 20,48%; vận chuyển 81,2 triệu lượt khách, tăng 10,35%; luân chuyển 5.730,2 triệu lượt khách.km, tăng 10,76%.

Vận tải hàng hóa: Doanh thu tháng 9/2026 ước tính 2.948 tỷ đồng, tăng 0,97% so với tháng trước và 17,24% so với cùng kỳ. Khối lượng vận chuyển 10,8 triệu tấn, tăng tương ứng 0,65% và 8,74%; khối lượng luân chuyển 952,5 triệu tấn.km, tăng 0,84% và 11,25%.

Tính chung quý III/2026, doanh thu vận tải hàng hóa ước tính 8.701 tỷ đồng, tăng 17,98% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển 32,1 triệu tấn, tăng 9,79%; khối lượng luân chuyển 2.828,7 triệu tấn.km, tăng 12,27%. Lũy kế 9 tháng, doanh thu ước tính 24.695 tỷ đồng, tăng 17,28%; khối lượng vận chuyển 92,7 triệu tấn, tăng 9,80%; khối lượng luân chuyển 8.181,7 triệu tấn.km, tăng 12,70%.

Kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải: Doanh thu tháng 9/2026 ước tính 1.372 tỷ đồng, tăng 0,82% so với tháng trước và 23,50% so với cùng kỳ. Quý III ước tính 4.075 tỷ đồng, tăng 25,08%; lũy kế 9 tháng 11.829 tỷ đồng, tăng 27,53%. Nhu cầu tập kết, lưu trữ và luân chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, xuất nhập khẩu tại các khu công nghiệp tiếp tục hỗ trợ hoạt động kho bãi và logistics.

Bưu chính, chuyển phát: Doanh thu tháng 9/2026 ước tính 42 tỷ đồng, tăng 0,64% so với tháng trước và 21,70% so với cùng kỳ. Quý III ước tính 124 tỷ đồng, tăng 27,04%; lũy kế 9 tháng 363 tỷ đồng, tăng 30,63%. Thương mại điện tử và nhu cầu mua sắm trực tuyến tiếp tục thúc đẩy dịch vụ bưu chính, chuyển phát.

9. Các vấn đề xã hội

9.1. Lao động việc làm, đời sống dân cư

- Tình hình lao động, việc làm:  Tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn, lao động phi chính thức và thất nghiệp trong thanh niên từng bước được kiểm soát tốt nhờ việc thành phố chủ động triển khai các giải pháp kết nối cung - cầu lao động, đẩy mạnh hoạt động các sàn giao dịch việc làm, tăng cường kiểm tra, quản lý an toàn lao động, bảo hiểm xã hội cũng như siết chặt quản lý lao động nước ngoài, từ đó hỗ trợ tích cực cho người lao động tìm kiếm việc làm ổn định và phát triển thị trường lao động bền vững. Tỷ lệ thất nghiệp toàn thành phố duy trì ở mức an toàn 2,15% theo mục tiêu đề ra.

Trong quý III và 9 tháng năm 2026, tình hình lực lượng lao động và việc làm trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực nhờ triển khai hiệu quả Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 01/CTr-UBND. Cụ thể:

+ Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính 9 tháng năm 2026 là 2.587.435 người. Trong đó: khu vực thành thị 1.207.556 người, chiếm 46,67%; khu vực nông thôn 1.379.879 người chiếm 53,33% trong tổng số lực lượng lao động. Lực lượng lao động theo giới tính có sự chênh lệch đáng kể, lực lượng lao động nam 1.426.971 người, chiếm 55,15%; lực lượng lao động nữ 1.160.464 người, chiếm 44,85% trong tổng số lực lượng lao động.

+ Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ước tính 9 tháng năm 2026 là 2.502.189 người. Trong đó: lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc ở khu vực thành thị là 1.191.793 người, chiếm 47,63% và ở khu vực nông thôn là 1.310.396 người, chiếm 52,37% trong tổng số lao động đang làm việc. Lao động nam là 1.343.926 người, chiếm 53,71%; Lao động nữ là 1.158.263 người, chiếm 46,29% tổng số lao động đang làm việc.

Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được quan tâm triển khai. Trong tháng, toàn thành phố giải quyết việc làm cho 10.177 lượt người; tổ chức 03 sàn giao dịch việc làm, thu hút 70 đơn vị và 13.325 người tham gia; tư vấn việc làm cho 12.744 lượt lao động. Lũy kế 9 tháng năm 2026, đã giải quyết việc làm cho 116.008 người, đạt tỷ lệ 116% kế hoạch năm; tổ chức 16/20 phiên giao dịch việc làm, đạt 80% kế hoạch năm; tư vấn việc làm cho 99.977 lượt người đạt tỷ lệ 83,31% kế hoạch năm, góp phần ổn định thị trường lao động và bảo đảm an sinh xã hội.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố tuyển mới đào tạo 48.787/57.000 học viên, đạt 85,59% kế hoạch năm. Số học viên tốt nghiệp và được cấp chứng chỉ là 40.642/50.000 học viên, đạt 81,28% so với kế hoạch năm.

- Đời sống dân cư: Tình hình đời sống dân cư trên địa bàn thành phố trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026 nhìn chung duy trì ổn định và tiếp tục có bước cải thiện nhờ sự tăng trưởng tích cực của các ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội được quan tâm triển khai; các chính sách xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, góp phần bảo đảm ổn định đời sống nhân dân.

9.2. Hoạt động văn hóa

Trong tháng 9/2026, công tác tuyên truyền cổ động trực quan và thông tin lưu động được tập trung triển khai hiệu quả, phục vụ các ngày lễ lớn (81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9), các hoạt động chính trị, tri ân liệt sĩ và kỳ họp HĐND thành phố. Kết quả thực hiện: phát hành 2.000 tờ tranh cổ động; dựng 450 m² pano cụm; thay đổi 700 m² nội dung pano cố định; treo 05 băng rôn, 2.240 lá cờ nội dung, 1.350 cờ Đảng, cờ Tổ quốc và 880 cờ phướn; đồng thời thực hiện 10 buổi xe loa tuyên truyền và tổ chức 04 buổi biểu diễn lưu động về chủ đề biển, đảo Việt Nam "Tổ quốc trong tim" thu hút 1.400 lượt người xem trực tiếp.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ trên địa bàn đạt nhiều kết quả tích cực với việc tổ chức thành công 19 chương trình phục vụ Nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cả nước cũng như thành phố, nổi bật là các hoạt động chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng các sự kiện của các sở, ban, ngành, qua đó thu hút tổng cộng 32.700 lượt người tham gia theo dõi.

9.3. Hoạt động thể thao, du lịch

Trong 9 tháng đầu năm 2026, công tác huấn luyện và thi đấu thể thao thành tích cao ghi nhận bước tiến vượt bậc, khẳng định vị thế địa phương trên đấu trường quốc gia và quốc tế. Toàn ngành đã đăng cai và tổ chức thành công 06 giải thể thao lớn, nổi bật là Giải Vô địch Pencak Silat Châu Á cùng các giải quốc gia uy tín như Việt dã leo núi Bà Rá, Xe đạp toàn quốc, Muay trẻ và Cầu mây trẻ. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, các đội tuyển thành phố tham gia thi đấu 134 giải, xuất sắc giành tổng cộng 836 huy chương (242 HCV, 243 HCB, 351 HCĐ); trong đó đạt 74 huy chương quốc tế và 02 huy chương (1 HCV, 1 HCB Marathon) tại Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ X.

Hoạt động du lịch của thành phố tiếp tục tăng trưởng khá với số lượng khách đến trong tháng đạt khoảng 455.000 lượt (bao gồm 441.500 lượt khách nội địa và 13.500 lượt khách quốc tế), mang lại doanh thu 375 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026, tổng lượng khách đến Đồng Nai đạt 4.456.000 lượt người (đạt 76,83% chỉ tiêu kế hoạch) với 4.337.500 lượt khách nội địa và 118.500 lượt khách quốc tế; qua đó nâng tổng doanh thu du lịch 9 tháng ước đạt 3.405 tỷ đồng, đạt 75,67% kế hoạch năm đề ra.

9.4. Y tế

Tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được theo dõi chặt chẽ và kiểm soát. Ngành Y tế đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm; tăng cường giám sát dịch tễ, phát hiện sớm, điều tra và xử lý triệt để các ổ dịch. Đồng thời, luôn bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc và hóa chất đáp ứng kịp thời yêu cầu phòng, chống dịch và điều trị. Công tác khám chữa bệnh BHYT tiếp tục được duy trì, bảo đảm quyền lợi người tham gia. Tính đến tháng 9/2026, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 93,5% dân số, đạt 97,4% so với mục tiêu Nghị quyết (96%); ngành Y tế tiếp tục phối hợp các ngành, địa phương triển khai các giải pháp phát triển người tham gia BHYT.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu phát sinh trong tháng:

- Sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 4.571 ca mắc, tăng 61,29% so với tháng trước và giảm 10,28% so tháng cùng kỳ; ghi nhận 01 ca tử vong. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ghi nhận 12.497 ca mắc, giảm 16,51% so cùng kỳ, có 06 ca tử vong.

- Sốt phát ban nghi sởi: Trong tháng ghi nhận 4 ca, giảm 6 ca so tháng trước và giảm 52 ca so tháng cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ghi nhận 73 ca mắc, giảm 6.432 ca so cùng kỳ, không ghi nhận ca tử vong.

- Tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 1.652 ca mắc, tăng 25,53% so tháng trước và cao gấp 2,1 lần so tháng cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ghi nhận 9.762 ca mắc, tăng 79,61% so cùng kỳ; 01 ca tử vong.

- Ho gà: trong tháng ghi nhận 01 ca mắc, giảm 03 ca so tháng trước và giảm 06 ca so tháng cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ghi nhận 12 ca, giảm 48 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong.

Các bệnh truyền nhiễm thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng cơ bản được kiểm soát, nhiều bệnh giảm so với cùng kỳ; không ghi nhận ca mắc mới đối với các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm như cúm A(H5N1/H7N9), tả, thương hàn, lỵ amíp, bạch hầu, đậu mùa khỉ. Tuy nhiên, tay chân miệng tiếp tục có xu hướng gia tăng, cần tập trung các biện pháp phòng, chống trong thời gian tới.

Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm: Trên địa bàn thành phố hiện có 19.584 cơ sở thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Y tế. Từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn. Trong 9 tháng, đã kiểm tra 146 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống, ghi nhận 104 lượt cơ sở đạt tiêu chuẩn quy định, chiếm tỷ lệ 71,23%. Đối với các trường hợp vi phạm, lực lượng chức năng đã xử phạt hành chính 42 cơ sở với tổng số tiền 531 triệu đồng; áp dụng hình phạt bổ sung đình chỉ hoạt động thời hạn 02 tháng đối với 01 cơ sở; đồng thời buộc thay đổi mục đích sử dụng đối với 3.093 đơn vị sản phẩm nước uống đóng chai.

9.5. Giáo dục

Tháng 9/2026, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố tập trung triển khai các nhiệm vụ năm học 2026-2027; công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và sách giáo khoa được các địa phương, cơ sở giáo dục thực hiện, bảo đảm các điều kiện phục vụ năm học mới. Lễ khai giảng năm học 2026-2027 được tổ chức đúng quy định; ngay sau khai giảng, hoạt động dạy và học từng bước ổn định. Việc sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập được thực hiện theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả quản lý và tối ưu hóa nguồn lực. Mạng lưới quy mô trường, lớp tiếp tục được rà soát, củng cố và mở rộng với tổng số 135 trường học ở các cấp học trên toàn thành phố; trong đó tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 78,5%.

Trong 9 tháng năm 2026, hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 với tỷ lệ tốt nghiệp chung sau phúc khảo đạt 96,89% (trong đó, hệ giáo dục phổ thông đạt 99,49%, hệ giáo dục thường xuyên đạt 87,66%). Bên cạnh đó, các kỳ thi trong năm đã đạt được nhiều kết quả cao, cụ thể: tham gia các kỳ thi cấp quốc tế đạt 02 huy chương Đồng; kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT quốc gia năm học 2025-2026 đạt 96 giải (trong đó có 01 giải Nhất); tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kĩ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt 01 giải Nhất và 01 giải Ba; tham gia Cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp" năm 2026 đạt 01 giải ba toàn quốc; tham gia Hội thi an toàn giao thông cấp Tiểu học, THCS và THPT năm học 2025-2026 cấp quốc gia đạt 50 giải (trong đó 02 giải Nhất, 03 giải Nhì, 16 giải Ba và 29 giải Khuyến khích).

Công tác hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, thực hiện các chính sách an sinh giáo dục và quản lý các khoản thu đầu năm được triển khai theo quy định. Cơ sở vật chất trường, lớp tiếp tục được đầu tư, sửa chữa, xây dựng; một số công trình trường học và trang thiết bị được hoàn thành, đưa vào sử dụng, góp phần đáp ứng nhu cầu học tập, nhất là tại các khu vực có tốc độ tăng dân số cơ học cao. Việc vận động hỗ trợ sách giáo khoa, học bổng và các điều kiện học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn được thực hiện kịp thời, góp phần bảo đảm điều kiện học tập trong năm học mới.

DNai_BCPT_T9_2026.docx

Thống kê TP. Đồng Nai

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Cục Thống kê thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Save Conflict. Your changes conflict with those made concurrently by another user. If you want your changes to be applied, click Back in your Web browser, refresh the page, and resubmit your changes.Trong ngày:
Tất cả:

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Số 528, Đường Đồng khởi, phường Tam Hiệp, ​thành phố ​Đồng Nai
Điện thoại: (0251)3.822.419; Fax: (0251)3.819.047
Email: ctk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn "thongke.dongnai.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này​

​

Chung nhan Tin Nhiem Mang